Mở đầu - _ Chương 2: Các công trình liên quan - _ Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu - _ Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận Chuong2: | CAC CÔNG TRINH LIEN QUAN 2. Thực trạng chọn trường, chon nghề 2. Ngành học và nghề nghiệp % Ngành đào tạo theo Luật Giáo dục đại học [3] được định nghĩa là tập hợp các kiến thức và kỹ năng chuyên môn của một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp, khoa học nhất định. Ngành đảo tạo bao gồm nhiều chuyên ngành đảo tạo.
4 Chuyên ngành dao tạo là tập hợp các kiến thức và kỹ năng chuyên môn chuyên sâu của một ngành dao tạo [3]. + Nghề: Là công việc sẽ làm trong tương lai, công việc đó sẽ tạo ra giá tri vật chất hay giá trị tỉnh thần nuôi sống cá nhân và gia đình, đóng góp các giá trị hữu ích cho cá nhân, người thân và xã hội [3]. + Xu hướng chọn nghề: là xu thé thiên về một số ngành nghề nào đó của phan đông học sinh. Thực trạng chọn nghề đối với những nhóm ngành tiêu biếu * Tại Hội nghị các trường DH, CD tô chức tháng 2/2012 [9], Bộ GDĐT nêu lên 2 trong những hạn chế là tình trang mat cân đối về cơ cau ngành tuyến sinh và đào tạo, chi tiêu tuyển sinh không hợp lý giữa các ngành.
+ Kỳ thi tuyển sinh DH, CD năm 2011 có 1.598 hồ sơ đăng ký dự thi gồm các khối A,B,C, D và một số khối năng khiếu. số hỗ sơ đăng ký dự thi khối C là 125.4% tông số hỗ so đăng ký dự thi [11]. + Theo thống kê của Bộ GDDT [11], năm 2011 có hon nửa triệu sinh viên CD, DH nhập học. Trong số này, các khối ngành kinh tế chiếm áp đảo về số lượng thí sinh trúng tuyên.
248/416 trường (tỉ lệ 59.62%) tuyến sinh một trong bốn ngành: kinh tế, quản trị kinh doanh, tài chính - ngân hàng, kế toán. 4 Trong ky thi tuyến sinh 2012, theo báo Tuổi trẻ [6], một số trường DH nhất là những trường ngoài công lập và nhiều ngành phải đóng cửa. Ví dụ: trường ĐH Phan Châu Trinh tuyến sinh tám ngành bậc DH chính quy với 500 chỉ tiêu và bốn ngành bậc CD với 300 chỉ tiêu. Sau đợt xét tuyển nguyện vọng bồ sung dot 1 (từ ngày 20-8 đến 20-9), khoảng 60 thí sinh nộp hồ sơ xét tuyến vào trường, và hiện nay trường đã trả lại hồ sơ sơ cho thí sinh nhập học.
Trường DH Tân Tạo (Long An) cũng công bố kết thúc tuyển sinh năm 2012 với 29 tân sinh viên nhập học. Trong đó, ngành kinh doanh quốc tế có số sinh viên nhập học đông nhất là 16, ngành quản trị kinh doanh 6 sinh viên. trong khi cũng năm này, trường thông báo tuyến sinh tám ngành với 500 chỉ tiêu. Tại Trường ĐH Phú Xuân (Thừa Thiên - Huế), chỉ tiêu tuyển sinh của chín ngành ĐH và sáu ngành CD là 1.000 nhưng chỉ có 75 hồ sơ đăng ký dự thi nguyện vọng | và một thi sinh trúng tuyển.
Trường DH Yersin (Đà Lat), cho biết trường chỉ tuyển được 20% chỉ tiêu, các trường ĐH Quốc tế Bắc Hà, Thành Đô có số lượng thí sinh nhập học chỉ vài chục đến 100. Ở phía Nam, Trường ĐH Cửu Long (Vĩnh Long) cũng chỉ tuyến được 30% trong tổng số 3.200 chỉ tiêu bậc DH, CD. Các nghiên cứu liên quan Nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện, và qua các công trình nghiên cứu này ta có thể thay việc chon lựa trường luôn là một van dé khó khăn, phúc tạp, thay đối theo nhiều điều kiện như trào lưu xã hội, tình hình kinh tế xã hội chính trị, không gian và thời gian lựa chọn. Các nghiên cứu trong nước o_ Kết quả nghiên cứu của tác giả nhóm Trần Văn Quí, Cao Hào Thi [13] thuộc trường ĐH Bách Khoa (2009) về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH của học sinh phô thông trung học.
227 bảng khảo sát của học sinh lớp 12 năm học 2008-2009 của 5 trường THPT Quang Ngãi cho thấy có 5 yếu tố: yếu tô cơ hội việc làm trong tương lai; yếu t6 đặc điểm cỗ định của trường ĐH; yếu tố về bản thân cá nhân học sinh; yếu tô về cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định của học sinh; yếu t6 về thông tin có sẵn ảnh hưởng đến quyết định chọn trường DH. Ngoài ra, yếu tố giới tính của học sinh gián tiếp tác động đến các yếu tô trên. Hạn chế của bài báo là chọn dữ liệu theo phương pháp thuận tiện, dữ liệu thu thập ít khi thực hiện ở 5 trường THPT tại Quang Ngãi và có thể nhiều yếu tố khác chưa được đưa vào trong nghiên cứu này. Mô hình chỉ giải thích vẫn đề nghiên cứu ở mức độ 21.5% khi nhân ra tong thể.
o Kết quả nghiên cứu “Khảo sát các yếu tô tác động đến việc chọn trường của học sinh lớp 12 Trung học phô thông trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” của tác giả Nguyễn Phương Toản (2011) [14] với 402 phiếu khảo sát đối tượng là học sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang cho thấy có 5 yếu tố: yếu tố về đặc điểm trường DH; yếu tố về sự đa dang va hap dan ngành dao tạo: yếu tố về cơ hội việc làm trong tương lai; yêu tô về nô lực giao tiép với học sinh của các trường DH; yêu tô vê danh tiêng của trường DH; [14] cũng cho thay sự khác biệt giữa các nhóm hoc sinh theo đơn vi trường, theo giới tính và theo học lực trong sự đánh giá tam quan trọng của các yếu tố khi quyết định chọn trường ĐH để dự thi. Ngoài ra, khác biệt cũng được thay giữa các nhóm học sinh sinh trưởng ở nông thôn và thị xã Gò Công, so với học sinh ở thành phố Mỹ Tho về đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng của thân nhân và yếu tô cơ hội trúng tuyển khi quyết định chọn trường DH dự thi. Mô hình chỉ giải thích van dé nghiên cứu ở 27.6% khi nhân ra tong thé. o Cong trình nghiên cứu của tác gia Phạm Mạnh Hà (2010) [15] về đặc điểm tâm lý trong hoạt động chọn nghề của học sinh lớp 12 THPT hiện nay với 709 học sinh lớp 12 tại 6 trường THPT ở Hà Nội, Thái Bình và Lào Cai, 60 giáo viên đang trực tiếp tham gia giảng dạy môn “Giáo dục hướng nghiệp”, 12 cán bộ là lãnh đạo tại các trường THPT, và 120 cha mẹ học sinh có con trong diện nghiên cứu.
Các yếu tổ được dé cập đến là yếu tô bên ngoài như nhu cầu của thị trường lao động, giáo dục của gia đình, công tác hướng nghiệp của nhà trường, mối quan hệ bạn bè đều có ảnh hưởng nhất định đến đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 12 khi chọn nghề. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng không cao. Trong khi đó những yếu tố bên trong như động cơ, định hướng giá trị của học sinh khi chọn nghề vẫn là nhân tổ chi phối và quyết định đặc điểm tâm lý của họ khi lựa chọn và quyết định nghề nghiệp. Cac nghiên cứu ngoài nước o Công trình về “Những yếu tố ảnh hưởng đến nguyện vọng chọn nghề của học sinh trung học” của nhóm tác gia Mei Tang, Wei Pan va Mark D.
Newmeyer (2008) [19] dựa trên phan tich 141 hoc sinh da dung m6 hinh “Social Cognitive Career Development” khao sát dé kiểm tra các môi quan hệ tương tác giữa các yếu tố như: kinh nghiệm hoc tập, giới tính, hiệu quả của nghề mang lại, kết quả mong muốn, sở thích nghề nghiệp và lựa chọn nghề nghiệp. Từ các kết quả của mô hình trung gian phân tích có cau trúc hỗ trợ vai trò của những kết quả mà nghề nghiệp mang lại, và kết quả cũng cho thay sự khác nhau của hoc sinh nam và nữ trong nguyện vọng nghề nghiệp, ảnh hưởng từ nhân viên tư van trong định hình sở thích nghề nghiệp và sự lựa chọn của học sinh cũng là một yếu tố quan trọng góp phan vào phát triển và thực hiện chương trình phát triển toàn diện giúp học sinh phát triển kỹ năng nghề nghiệp thông qua các hoạt động học tập. Hạn chế là kích thước mẫu tương đối nhỏ, hầu hết đối tượng là học sinh thuộc tầng lớp trung lưu. 10 o Công trình “Factors influencing enrollment in agricultural education programs as expressed by Iowa secondary agricultural education students” của nhóm tác gia Alan A.
Kahler va Randal, R. (1997) [20] với 1429 sinh viên tham gia khảo sat dé xác định được các yếu tố chọn trường gồm có: từ người có ảnh hưởng đến việc chọn trường như cha mẹ, thầy cô, bạn bè, và người đã tham dự vào chương trình học, sở thích cá nhân và sở hữu nên tảng nông nghiệp, chương trình đảo tạo được chia sẻ với cộng đồng, với những sinh viên tiềm nang, những phụ huynh, những nhà điều hành,.và điểm mạnh của chương trình đào tạo được tư vân viên tư vần cho những sinh viên quan tâm. o Công trình “Career choice factors of high school students” của tác giả M.Borchert (2002) [21] dua ra ba yếu tố là: môi trường, cơ hội, cá tính ảnh hưởng đến việc chọn nghề. Khảo sát này được thực hiện với 79 ý kiến.Trong đó, yếu tố môi trường dé cập đến kinh tế của vùng lân cận nơi sinh viên sinh sống, qua việc xem thông tin về học tập, kỹ thuật của những đại học công và tư trên những tờ báo hoặc truyền hình.
Cha mẹ, anh chị, bạn bè, giáo viên, nhân viên tư vấn cũng là những yếu tố môi trường có ảnh hưởng nhiều nhất. Cơ hội học tập ngoài hệ thong trường DH bang Wisconsin có rất nhiều trường DH tư và 3 trường kỹ thuật. Do đó, đào tạo nhiều nghề nghiệp cũng cực kỳ đa dạng. Về cá tính, hầu hết sinh viên cho rằng đây là yếu tố quan trọng nhất vì chính mỗi bản thân họ phải chon lựa nghề nghiệp mà họ cảm thấy tự tin nhất.
o Công trình “Who and what influences choice of university? student and university perceptions” cua tac gia Timothy C. (2010) [22] da khao sat trén 475 sinh vién va 190 nhân viên trong trường DH đều cho rằng các yếu tố ảnh hưởng là cha mẹ, bạn bè, đại diện của trường ĐH. Một chuyến viéng thăm trường cũng có thé ảnh hưởng đến quyết định chọn trường. Sinh viên cho răng email, thư giấy gây ảnh hưởng nhiều hơn thông qua các phương tiện truyền thông xã hội như Facebook, Youtube, Twitter,.
Kết quả khảo sát với nhân viên trong trường cho thấy họ đánh giá thấp sự ảnh hưởng của đại diện của trường và những cuộc viếng thăm trường của các sinh viên tương lai.