CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE HANH VI SỬ DỤNG PHƯƠNG TIEN GIAO THÔNG 1. Tổng quan tài liệu 1. Tài liệu nước ngoài Với nghiên cứu của Adriana và cộng sự (2014) cho thấy việc thiếu cơ sở hạ tầng đành riêng cho xe đạp là rào cản mạnh nhất ảnh hưởng đến việc khuyến khích sử dụng xe đạp để đi lại. Nghiên cứu của Ronald và Debasis (2011) đã chỉ ra 4 nhóm yếu tố tác động tới hành vi mua xe đạp ở An độ: Yếu tố xã hội, yếu tố văn hóa, yếu tố cá nhân và yếu té tâm lý.
Theo nghiên cứu của Marina Milkovic (2015) chỉ ra tam quan trọng của yếu tố thái độ trong việc dự đoán hành vi sử dụng xe đạp. Yếu tế thái độ được đưa ra giúp thúc đây việc sử dụng xe đạp hơn là các biện pháp nhằm tăng cường sử dụng xe đạp như cơ sở hạ tầng. Đề thúc day việc sử dung xe đạp thường xuyên hơn sẽ đi đôi với việc liên tục quảng bá xe đạp như một phương tiện giao thông thân thiện với môi trường, giá rẻ, lành mạnh. Với nghiên cứu của tác giả Catherine và cộng sự (2009) cho thấy các yếu tố cá nhân, xã hội và thể chất đều đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sử dụng xe đạp, những ảnh hưởng này thường giống nhau đối với nam và nữ.
Theo Goetzke và Rave (2011), phát hiện ra rằng việc lựa chọn xe đạp của người dân Đức không phụ thuộc vào co cơ sở hạ tang dành cho xe đạp và cách chính phủ khuyến khích họ lựa chọn xe đạp làm phương tiện di chuyển. Đối với Heinen và cộng sự (2010) cho. rằng thời tiết xấu được coi là một yếu tố cản trở mạnh việc lựa chọn xe đạp làm phương tiện di chuyên. Tài liệu trong nước Theo nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài và Hồ Quốc Tuấn (2015) cho thấy rằng các yếu tố thái độ đối với môi trường và phản ứng đối với chính sách ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương tiện đi làm của người dân.
Sự sẵn lòng hành động vì môi trường nâng cao khả năng đi bộ hoặc xe đạp, đồng thời các cá nhân sẽ phản ứng với chính sách hạn chế phương tiện cá nhân theo hướng tăng sử dụng xe đạp. Theo nghiên cứu của Trần Thị Phuong Anh và cộng sự (2020) chỉ ra hành vi lựa chọn phương tiện di chuyển của người dân Đà Nẵng chịu tác động bởi các yếu tố như mục đích chuyến đi, tần suất chuyến đi, thời điểm xuất phát, khoảng cách và chỉ phí chuyền đi, giới tính, tuổi, tong thu nhập hang tháng của gia đình. Yếu tố thời tiết, khu trung tâm, phân làn đường, điều kiện thông thoáng của via hè, cuối tuần, nghề nghiệp, sở hữu bằng lái, và yếu tố số lượng phương tiện sở hữu của gia đình không ảnh hưởng đến việc chọn phương thức đi lại của người dân. Với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Thái và cộng sự (2017) có chỉ ra việc cơ sở hạ tầng giao thông dành cho hệ thống xe đạp hầu như chưa được chú trọng và phát triển.
Nhu cầu sử dụng xe đạp tương đối lớn, 74,9% người được hỏi sẽ sử dụng xe đạp nếu được quy hoạch làn đường riêng. Nhưng nguyên nhân không sử dụng xe đạp chủ yếu là đo quãng đường đi lại xa hoặc do sở hữu phương tiện khác. Với nghiên cứu của Lê Nam Phong (2008), chỉ ra ưu điểm về việc tái phát triển xe đạp trong đô thị: giúp giảm ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, nâng cao sức khỏe cho người dân. Tuy nhiên, những quy hoạch giao thông của thành phô Hà Nội lại không trú trọng vào loại hình giao thông xe dap.
Khoảng trống nghiên cứu Tại Việt Nam, những nghiên cứu liên quan đến hành vi lựa chọn sử dụng xe đạp nói chung và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định không lựa chọn xe đạp nói riêng chưa nhiều. Các nghiên cứu chưa đi sâu vào các yếu tố tố ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn của sinh viên. Điều này tạo ra một khoảng trồng trong việc hiêu rõ hơn về hành vi lựa chọn của đối tượng sinh viên. Hành vi lựa chọn phương tiện giao thông của sinh viên có thể là một khía cạnh mới mẻ cần nghiên cứu.
Sinh viên trong thời đại mới thường sẽ có những nhu cầu và yêu cầu đặc bi hơn trong việc ra quyết định hành vi của mình. Vì thế việc nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không sử dụng xe đạp làm phương tiện di chuyển của sinh viên tại thành phố Hà Nội còn rất nhiều nội dung cần được nghiên cứu, khám phá. Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hướng tới hành vi không sứ dụng xe đạp 1. Khái niệm, đặc điểm của xe đạp Xe đạp là một loại phương tiện được ưa chuộng từ lâu, là phương tiện giao thông đơn giản, nhanh chóng, tiện lợi, phù hợp với quá trình phát triển bền vững.
Đồng thời cũng là phương tiện di chuyển và luyện tập thể dục phổ biến với mọi người. Trước tình hình chi phí nhiên liệu leo thang, người ta lai tìm về với xe đạp như một giải pháp vừa tiết kiệm nhiên liệu, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Xe đạp còn là phương tiện giao thông chính ở nhiều nơi trên thế giới như Hà Lan, Pháp. Phương tiện này thé hiện các xu hướng “giao thông sạch”, tiêu dùng và sản xuất bền vững, tích cực với môi trường.
Vai trò của xe đạp Vé mặt sức khỏe, theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới (WHO), việc thường xuyên đạp xe có thể làm giảm nguy cơ các bệnh tai biến, tiều đường hoặc ung thư. Theo Hiệp hội Y khoa Anh, đi xe đạp 20km/tuần có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Ngoài việc có tác dụng tốt cho tim, việc đạp xe thường xuyên rất tốt với người bị huyết áp cao, tránh nguy cơ xảy ra đột quy. Về mặt kinh tế, xe đạp thúc đây sự xuất hiện hoặc cải thiện nhiều loại hình kinh doanh mới như việc đưa thư bằng xe đạp, trường đua xe đạp (Norcliffe, 2001).
Bên cạnh đó xe đạp mở ra sự thay đồi trong cách thức di chuyển của con người, từ việc sử dụng phương tiện công cộng sang việc sở hữu xe cá nhân. Xe đạp có thé là một cầu nối giữa các giải pháp giao thông công cộng, người dân có thể lựa chọn xe đạp đề di chuyền giữa các trạm xe buýt, tàu điện. Vé mặt môi trường, việc sử dung xe đạp là một cách giải phóng người sử dung khỏi việc tiêu thụ nhiên liệu động cơ (Ballantine, 1972). Việc sử dụng xe đạp thể hiện xu hướng “giao thông sạch”, thân thiện với môi trường.
Theo cơ quan bảo vệ môi trường của Hoa Kỳ, nếu mọi người sử dụng xe đạp ít nhất 1 tuần 1 lần, thi lượng khí CO2 thải ra sẽ giảm đi, đồng thời giảm 20% sự nóng lên toàn cầu. Xe đạp sẽ giúp tiết kiệm được không gian, với việc số lượng phương tiện giao thông ngày càng tăng. Việc xây dựng bãi đỗ xe ngày càng nhiều lên, đồng nghĩa với việc đó phải phá bỏ nơi sinh sống của động, thực vật, chặt bỏ cây xanh gây tác động xấu tới môi trường sống. Chỗ đậu xe đạp giúp tiết kiệm rất nhiều không gian, giảm hiệu ứng nhà kính.
Lý thuyết hành vi người tiêu dùng 1. Hành vi người tiêu dùng Tại Việt Nam, pháp lệnh quy định người tiêu dùng là người mua, sử dụng hang hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức (Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, 1999). Người tiêu dùng là bắt cứ đơn vị kinh tế nào có nhu cầu tiêu dùng hàng hóa. Người tiêu dùng được coi là một cá nhân, hoặc cũng có thé là cơ quan, các cá nhân và nhóm cá nhân (David, 1999).
Người tiêu dùng là người xác định nhu cầu hay mong muốn, mua sản phẩm và sau đó định đoạt sản phẩm trong 3 giai đoạn của quá trình tiêu dùng (Solomon, 2013). Hanh vi người tiêu dùng là những hành động tốt nhất dé con người đạt được mục đích mong muốn của mình (Mankiw, 2014). Hành vi mua của người tiêu dùng là cách thức mà người tiêu dùng sẽ thực hiện dé đưa ra quyết định sử dung các tài sản của mình liên quan đến việc mua sắm, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu cá nhân (Trần Minh Đạo, 2009). Các yếu tố như giá thành, sản phẩm, nhà cung cấp.
cùng với nhiều tác nhân khác của môi trường sẽ ảnh hưởng đến ý thức của người tiêu dùng và các phản ứng của họ (Kotler, 2009). Cae yếu tố Các tác Những phan ứng. kích thích | nhân kích *Hộp đen” ý thức của đáp lại của người của thích khác người mua mua marketing - Hàng hóa _ | -Môi ~ Lựa chọn hàng hóa - Giá cả trường kinh - Lựa chọn nhãn ~ Phương tế t—+| Các đăctnh | Quatrinh |—y| hiểu pháp phân | -KHKT người | quyết định ~ Lựa chon nha cung, phối ~ Chính trị dùng mua hàng. ứng 7 - Khuyến ~ Văn hóa ~ Lựa chọn khối mãi lượng mua Hình 1.
Mô hình hành vi mua của người tiêu dùng (Nguồn: Phillip Kotler, 2009) 1. Quá trình ra quyết định của người tiêu dùng Người tiêu dùng thường phải trải qua một quá trình gồm 5 giai đoạn gồm: Nhận thức vấn dé, tìm hiểu thông tin, đánh giá các lựa chọn, quyết định mua hàng, Hình 1. Quá trình quyết định mua (Nguồn: Philip Kotler, 2009) Nhu cầu sẽ xuất hiện khi một người ý thức du+gc những gi mình khao khát, mong muốn. Nhu cầu được phát sinh do các kích thích bên trong hoặc nhu cầu bên ngoài.
Khi nhu cầu trở nên cấp thiết thì người tiêu dùng sẽ hành động đề thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Giai đoạn tìm kiếm thông tin liên quan sẽ xuất hiện sau khi nhu cầu đủ mạnh mẽ. Người tiêu dùng có thé tìm kiếm thông tin “bên trong” hoặc “bên ngoài” bản thân họ. Việc tìm kiếm thông tin có thé qua nguồn thông tin cá nhân, thông tin quảng cáo, thông tin phổ thông, hoặc thông tin kinh nghiệm.
Người tiêu dùng sẽ phải xử lý thông tin thu được rồi mới đưa ra quyết định mua sắm. Người tiêu dùng sẽ đánh giá thông tin theo một hệ thống đánh giá bao gồm: quy tắc đánh giá, niềm tin, thái độ và ý định. Quy tắc đánh giá là thước do dé so sánh hay đánh giá các sản phẩm, nhãn hiệu. Niềm tin là những mức độ mà theo đó sản phẩm có được chỗ đứng trong tâm trí người tiêu dùng.
Thái độ là mức độ thích hay không thích đối với sản phâm hay dịch vụ.