CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về động lực làm việc cho người lao động 1. Khái niệm cơ bản về động lực Động lực làm việc của các cá nhân và tổ chức đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả công việc của cá nhân và tổ chức.Đặc biệt với tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước, một hệ thống lớn có kết cấu đội ngũ các bộ ,công „viên chức thì việc tạo động lực rất quan trọng.Động lực làm việc của đội ngũ cán bộ công, viên chức cũng là một động lực giúp tăng trưởng và phát triển cho kinh tế đất nước. Trên thế ĐIỚI CÓ rất nhiều nghiên cứu về định nghĩa động lực sau: Theo Pinder (1998), động lực làm việc được định nghĩa là tập hợp các lực xuất phát từ bên trong hay bên ngoài của cá nhân tạo nên, dẫn dắt và duy trì hành vi liên quan đến công việc của con người hay theo Robbins (1993), động lực làm việc là sự sẵn lòng thê hiện mức độ cao của những nỗ lực đề hướng đến các mục tiêu của tô chức trên cơ sở thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân.
Còn theo Mitchell (1982), động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng và kiên trì thực hiện các hoạt động tự nguyện nhằm đạt được mục tiêu. Greenberg & Baron (2000) chia động lực thành ba phần chính. Phần thứ nhất hướng vào những kích thích có liên hệ với phần cứng hay năng lượng phía sau mỗi hành động cá nhân. Mọi người được định hướng bởi mỗi quan tâm của họ đến việc tạo ấn tượng tốt cho người khác, làm các công việc thú vị và thành công với những công việc họ làm.
Phần thứ hai đề cập đến những người lựa chọn và chỉ đạo hành vi họ thực hiện. Phần thứ ba liên quan đến hành vi duy trì, xác định rõ ràng việc mọi người phải mất bao nhiêu thời gian trong việc duy trì nỗ lực để đạt được mục tiêu của mình. Còn theo Campel & Pritchard (1976) động lực làm việc bao gồm một bộ mỗi quan hệ đa dạng phụ thuộc và không phụ thuộc vào nhau mà nó giải thích phương hướng, kỹ năng, sự hiểu biết về những nhiệm vụ và cả hoạt động mà các cá nhân miễn cưỡng phải thực hiện trong môi trường làm việc. Động lực làm việc cũng đề cập đên trạng thái tâm lý cơ bản đưa đên cách ứng xử, hành vi của các người lao SVTH Phùng Thị Hà Nhỉ GVHD Lêhị Minh Toàn động.
Nói chung động lực làm việc chính là một nhu cầu, mong muốn hay khao khát mà nó diễn ra bên trong mỗi người lao động khiến cho họ biểu hiện ra thành hành vi nào đấy. Theo Warr, Cook & Wall (1979) động lực nội tại chính là nhu cầu hoàn thành, thành công, và hài lòng trong công việc của cá nhân. Động lực thế hiện mong muốn làm tốt công việc của cá nhân nhằm thỏa mãn chính mình. Theo Amabile (1993) cá nhân có động lực làm việc khi họ tìm kiếm niềm vui, mỗi quan tâm, thỏa mãn trí tò mò, tự thể hiện và muốn có thử thách trong công việc.
Còn Deci (1975) cho rằng nhân viên muốn làm việc để hiểu được khả năng của mình và tự quyết trong công việc. Khi bị thúc đây bởi động lực bên trong, nhân viên hoàn thành công việc của mình chủ yếu chỉ vì sự thích thú, say mê công việc đó và có xu hướng chấp nhận những khó khăn, thách thức, thậm chí tạm thời thất bại để thành công. Như vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về động lực làm việc, nhưng rõ ràng động lực làm việc của nhân viên là một mối quan hệ giữa cá nhân với tô chức. Theo giáo trình quản trị nguồn nhân lực của Nguyễn Vân Điểm - Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực làm việc là sự khát khao tự nguyện của mỗi cá nhân để nhằm tăng cường phát huy nô lực của bản thân đề đặt được mục tiêu và kết quả nào đó”.
Khái niệm cơ bản về động lực làm việc - Động lực làm việc được thê hiện thông qua những công việc cụ thê mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và thái độ của họ đối với tô chức. Có thê nói, động lực làm việc là trạng thái hình thành khi người lao động kì vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc (Vroom, 1964). va Pringle (1982), hiệu suất làm việc của nhân viên phụ thuộc đồng thời vào ba yếu tố: (1) Năng lực của bản thân cá nhân đó, là khả năng của cá nhân đó trong thực hiện và giải quyết công việc. Năng lực cũng bao gồm kiến thức, kỹ năng, hiểu biết và kinh nghiệm cho phép cá nhân hoàn thành công việc được giao.
Nói cách khác, cá nhân cần “biết làm” công việc đó. (2) Nguồn lực, điều kiện đề thực thi công việc, gồm: công cụ, trang thiết bị, nguyên vật liệu, sự hễ trợ, cơ chế. đề cá nhân có thê phát SVTH Phùng Thị Hà Nhị GVHD Lésthi Minh Toan huy được năng lực của mình. Nói cách khác, cá nhân cần có điều kiện để “có thể làm” công việc đó.
(3) Động lực làm việc: cá nhân phải mong muốn đạt kết quả cao trong công việc. Nói cách khác, cá nhân cần “muốn làm” công việc đó với kết quả cao. Để cá nhân có được kết quả làm việc cao, cần hội đủ ba yếu tố nảy. Nếu một trong ba yếu tố này không được đảm bảo, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả làm việc của cá nhân và nhóm làm việc.
Cụ thé hon, Carter, S. Công thức này cho thấy tầm quan trọng của động lực làm việc đối với kết quả làm việc của mỗi cá nhân trong tổ chức và ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của cả tổ chức. Nếu động lực làm việc bằng 0 thì một người dù có khả năng làm việc tốt và có đầy đủ nguồn lực cũng có thé không thực hiện được mục tiêu. Một người có động lực làm việc cao có thể đạt hiệu suất làm việc như mong đợi, kế cả khi người đó hạn chế về kiến thức, kỹ năng.
- Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các nhân tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm nay mot lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực làm việc chưa chắc đã còn trong họ. - Động lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vao bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thay có một sức ép hay áp lực nảo trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thê đạt được năng suất lao động tốt „ sáng tạo ,đôi mới ,tạo sự đột phá nhất.
SVTH Phùng Thị Hà Nhỉ GVHD Lê@hị Minh Toàn - Động lực làm việc là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao trong điều kiện các nhân tố khác không thay đôi. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng không phải cứ có động lực làm việc là dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân vì điều đó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như trí tuệ, trình độ, tay nghề của người lao động, các phương tiện, công cụ lao động và nguồn lực đề thực hiện công việc. Trong thực tiễn, người lao động không có động lực làm việc thì vẫn có thê hoàn thành công việc; thế nhưng chúng ta không thấy răng sự gắn bó, nhiệt huyết của ho voi DN la không nhiều. Bản thân họ không thể mang hết tài năng và trí tuệ công hiến tận tụy cho DN và không khi nào họ là những nhân viên trung thành, là tài nguyên quý giá của DN.
Đề có được động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó. Tóm lại, có thể nói động lực làm việc là yếu tô cốt lõi, góp phần vào sự nhiệt huyết đối với người lao động. Đó là sự sẵn sàng, say mê làm việc, nỗ lực, khao khát tự nguyện, nhằm đạt được mục tiêu của tô chức cũng như bản thân của người lao động. Tuy nhiên, kết quả chung mà nó mang lại chính là năng suất lao động cao và hiệu quả công việc tốt.
Động lực làm việc là yếu tô bên trong nhưng lại được biểu hiện ra bên ngoài thông qua thái độ, hành vi của người lao động. Về cơ bản, sự biểu hiện đó bao gồm mức độ tham gia vào công việc của người lao động và mối quan tâm đối với nghề nghiệp của họ. Thông qua nắm bắt được các biểu hiện động lực làm việc của người lao động, các tô chức sẽ có các chính sách nhân sự, biện pháp tạo động lực làm việc phù hợp cho nhân viên.2 Các mô hình nghiên về động lực làm việc 1. Các lý thuyết về tạo động lực làm việc 1.1 Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Maslow (1943) đề xuất rằng con người cần có những nhu cầu cơ bản cần thực hiện trong cuộc đời mình.
Ông giả định rằng trong mỗi con người tồn tại sự phân cap của 5 loại nhu câu: SVTH Phùng Thị Hà Nhỉ ` GVHD Lê Thị Minh Toàn - Nhu cầu sinh lý bao gồm sự cáu giận, khao khát và các nhu cầu cơ thể khác; - Nhu cầu an toàn bao gồm sự an toàn và được bảo vệ khỏi những tốn hại về tinh than va than thé; - Nhu cầu xã hội bao gồm cảm giác yêu mến, sự phụ thuộc, sự chấp nhận và tình bạn; - Nhu cầu được tôn trọng là các yếu tố bên trong như lòng tự trọng, tự do va thành tích cùng các yếu tố bên ngoài như địa vị, sự công nhận và sự quan tâm; - Nhu cầu tự hoản thiện là có động lực để trở thành người mà ta muốn trở thành, bao gồm sự trưởng thành, đạt được tiềm năng và hoàn thành nguyện ước của mình. Mặc dù không có nhu cầu nào có thê được thỏa mãn hoàn toàn nhưng néu một nhu cầu về căn bản được thỏa mãn thì sẽ không tạo ra động lực nữa. Do vậy, khi một trong các nhu cầu trên dần được thỏa mãn về cơ bản thì nhu cầu tiếp theo dân sẽ chiêm ưu thê. Nhu A Nhu cau cau hoan thién bac Nhu câu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu câu an toàn Nhu câu sinh lý Hình 1.1 Các cấp bậc nhu cầu của Maslow (Nguồn: Maslow, 1943) SVTH Phùng Thị Hà Nhỉ =GVHD Lésthi Minh Toan Hình I.