Chương 1: Mở dau. Chương này trình bảy ly do hình thành dé tài, tính cấp thiết của dé tài nghiên cứu, từ đó trình bày mục tiêu nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như những ý nghĩa về lý thuyết và thực tiễn của đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương nay trình bày những khái niệm, những nội dung có tính lý thuyết liên quan đến van dé nghiên cứu động lực làm việc của giảng viên từ đó dua ra giả thuyết và mô hình nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên các trường Đại học tại tỉnh Lâm Đồng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương này trình bày các phương pháp khoa học được sử dụng để nghiên cứu và cách thức tiễn hành các phương pháp đó như: Phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, các phương pháp phân tích, kiểm định thang đo và phương pháp xử lý số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày nội dung nghiên cứu chủ yếu của luận văn về vấn đề nghiên cứu. Nội dung của chương này nói lên các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện luận văn và phân tích các kết quả đạt được đó thông qua những hiểu biết khi thâm nhập thực té và việc phân tích các số liệu đã thu thập.
tính toán phân tích tong hợp, đánh giá nhận định các van dé nghiên cứu. Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và hồi quy đa biến. Trên kết quả đó, đưa ra ý kiến thảo luận. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Chương này trình bay các kết quả chính của van đề nghiên cứu va đưa ra các kiến nghị. Ở chương này cũng nêu ra những hạn chế và hướng tiếp theo của đề tài. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của nghiên cứu, các khái niệm, tong quan cơ sở lý thuyết và mô hình lý thuyết áp dụng cho nghiên cứu. Trong đó biến phụ thuộc là động lực làm việc của giảng viên và bién độc lập là các yếu tố có ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên.1 CƠ SỞ LÝ THUYET CUA NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm và vai trò của động lực làm việc * Động lực làm việc” ( motivation) được định nghĩa như sau: Theo từ điển kinh doanh, động lực làm việc là các yếu tố bên trong và bên ngoài kích thích nhu cầu của người lao động, làm cho họ không ngừng hứng thú và cam kết trong công việc, trách nhiệm được giao và nỗ lực liên tục để đạt được mục tiêu. Động lực là kết quả tương tác giữa các yếu tố khách quan như là (1) Mức độ của nhu cầu, (2) giá trị của phần thưởng khi đạt được mục tiêu và (3) mức độ mong đợi của cá nhân so với các nhu cầu khác. Động lực là những nguyên nhân tiềm an bên trong của hành vi (Guay, 2010 dan theo Lai, 2011). Động lực là những thuộc tính điều khiển chúng ta làm hoặc không lam một cái gì đó (Gredler & ctg, 2004 dẫn theo Lai, 2011).
Theo Lai (2011) động lực liên quan đến niềm tin, nhận thức, giá tri, lợi ích, hành động và tất cả đều liên quan chặt chẽ với nhau. Các cách tiếp cận khác nhau mà động lực có thể tập trung vào hành vi nhận thức (như việc giám sát hay áp dụng chiến lược), hành vi không nhận thức (như niềm tin và thái độ). Có 2 loại động lực là động lực nội tại và động lực bên ngoài (Lai, 2011). Động lực nội tại hay còn gọi động lực bên trong là động lực mà được tạo bởi các sở thích cá nhân, sự quan tâm hoặc niềm vui (Lai, 2011).
Động lực bên trong tiếp thêm sinh lực và duy trì các hoạt động thông qua sự thỏa mãn khi các hành động có được hiệu quả (Deci & ctg, 1999 dẫn theo Lai, 2011). Động lực lúc này biểu hiện trong hành vi như vui chơi, khám phá, tìm kiếm những thách thức để đạt được những phần thưởng (Deci & ctg, 1999 dẫn theo Lai, 2011). Các nhà giáo dục học cho rang động lực nội tại cho kết quả học tập tốt hơn so với động lực bên ngoài (Deci & ctg, 1999 dẫn theo Lai, 201 1). Theo Pinder (1998) cũng đã chỉ ra rõ hơn và cho rằng động lực làm việc là một tập hop của các yếu tố bên ngoai và bên trong dẫn tới các hành vi liên quan đến việc thiết lập, định hướng hình thức, thời gian và cường độ của hành động.
Định nghĩa này xác định ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài (ví dụ: tính chất công việc, hệ thống khen thưởng của tổ chức) va các yếu tổ bam sinh của một cá nhân (ví dụ: động cơ và nhu cầu của một người) đến các hành vi liên quan đến làm việc. Cho đến nay trên thế giới đã có khá nhiều các học thuyết khác nhau hướng đến việc nỗ lực giải thích bản chất của động lực làm việc. Denibutun (2012) đã khám phá sự khác nhau giữa các lý thuyết về động lực làm việc và xem xét động lực như một quá trình tâm lý cơ bản của con người. Các lý thuyết về động lực giúp giải thích hành vi của một người nhất định tại một thời điểm nhất định.
Có thé chia các học thuyết này thành 2 nhóm: (1) Học thuyết nội dung tập trung nhận dạng những nhu cầu của cá nhân có ảnh hưởng đến hành vi của họ ở nơi làm việc, bao gồm: Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow; Mô hình tháp nhu cầu điều chỉnh của Alderfer (mô hình này là sự rút gọn, giản lược từ mô hình gốc của Maslow); Thuyết 2 yếu tố của Herzberg (gồm nhóm yếu tố thúc day và nhóm yếu tổ duy trì): (2) Học thuyết quá trình tập trung nghiên cứu vào quá trình tư duy của con người. Quá trình tư duy này có ảnh hưởng đến quyết định thực hiện những hành động khác nhau của con người trong công việc, bao gồm các lý thuyết sau: Thuyết kỳ vọng của Vroom; Thuyết công bằng của Adam; Lý thuyết mục tiêu của Locke; Thuyết thâm quyển của Heider và Kelley; Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007). động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thé (Nói cách khác động lực bao gồm tất cả những ly do khiến con người hành động) Động lực cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đối và khó năm bat. Chúng được chia thành ba loại yếu tố cơ bản đó là: Loại 1.
Những yếu t6 thuộc về con người tức là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người thúc đây con người làm việc như: lợi ich cua con người, mục tiêu cá nhân, thái độ của cá nhân, khả năng và năng lực của cá nhân, thâm niên, kinh nghiệm công tác. Các nhân tố thuộc môi trường là những nhân t6 bên ngoài có ảnh hưởng đến người lao động như: văn hoá của doanh nghiệp, các chính sách về nhân sự. Các yếu t6 thuộc về nội dung ban chất công việc là yếu tố chính quyết định ảnh hưởng đến thù lao lao động và mức tiền lương của người công nhân trong tô chức như: tính 6n định và mức độ tự chủ của công việc, mức độ khác nhau về nhiệm vụ, trách nhiệm, sự phức tạp của công việc, sự hấp dẫn và thích thú trong công việc. Vai trò của động lực làm việc Ifinedo (2003) cho thay rang một người lao động có động lực có thé dé dang thay ro su nhiét tinh, su céng hién va su tập trung vào công việc cua họ nhăm đóng gop cho mục dich và mục tiêu chung cua tổ chức.
Do vậy, động lực có liên quan đến việc mong muốn đạt kết quả tốt với nhiệm vụ được giao. Amabile (1996) đã công nhận tầm quan trọng của động lực nội tại đến các hoạt động sáng tạo trong công việc. Các nhà khoa học khác như Woodman và các cộng sự (1993); Ford (1996, 1999); Nam Choi (2004) ( trích Lapeniene (2012)) cũng nhân mạnh tam quan trọng của động lực nội tại đến các hoạt động sáng tạo tại nơi làm việc. Người lao động có xu hướng sáng tạo hơn ở nơi làm việc khi công việc có liên quan đến sự yêu thích của cá nhân hoặc khi công việc đó hấp dẫn và mang lại cho họ sự hứng thú.
Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quan, 2007 tạo động lực làm việc là tất cả những hoạt động mà doanh nghiệp có thể thực hiện được đối với người lao động, tác động đến kha năng làm việc tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động. Tạo động lực gan liền với loi ích hay nói cách khác là lợi ích tạo ra động lực trong lao động. Trên thực tế động lực được tạo ra ở mức độ nào, bang cách nào điều đó phụ thuộc vào cơ chế cu thé dé sử dụng nó như là một nhân tố cho sự phát triển của xã hội. Muốn tạo ra động lực phải tác động vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thé.2 TONG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYET Các ly thuyết được sử dung rất nhiều trong các nghiên cứu về động lực làm việc.
Các luận điểm chính của các lý thuyết này giải thích lý do con người có động lực làm việc là để thỏa mãn các nhu cầu của họ và mong muốn đạt được kết quả hay mục tiêu xác định. Đại diện cho các trường phái lý thuyết này là các nhà nghiên cứu: Maslow (1943), Herzberg (1959),Vroom (1964); J. Mô hình “Thuyết nhu cầu của Maslow” Theo lý thuyết của tác giả Maslow vé sự phát triển cá nhân và động lực được công bố vào năm 1943. Mô hình ma ông xây dựng nên là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về động cơ cá nhân.
Nhu cầu của cá nhân rất phong phú và đa dạng, do vậy để đáp ứng được nhu cầu đó cũng rất phức tạp.