Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tạo ĐLLV cho GV thông qua TLLĐ trong cơ sở GD ĐH công lập. 8 Chương 2: Thực trạng tạo ĐLLV cho GV thông qua TLLĐ tại Trường ĐH LĐ - XH. Chương 3: Giải pháp và Đề xuất nhằm tăng cường tạo ĐLLV cho GV thông qua TLLĐ tại Trường ĐH LĐ - XH. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN THÔNG QUA THÙ LAO LAO ĐỘNG 1.
Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm cơ sở GD ĐH công lập Theo Điều 7 - Luật GD ĐH năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2018, quy định liên quan đến Cơ sở GD ĐH như sau: “Cơ sở GD ĐH” là cơ sở GD thuộc hệ thống GD quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của GD ĐH, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng. Cơ sở GD ĐH công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và là đại diện chủ sở hữu Cơ sở GD ĐH bao gồm ĐH, trường ĐH và cơ sở GD ĐH có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật. ĐH quốc gia, ĐH vùng là ĐH thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhiệm vụ phát triển vùng của đất nước.
Trong đó: Trường ĐH, học viện là cơ sở GD ĐH đào tạo, nghiên cứu nhiều ngành, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật GD ĐH. Khái niệm về Giảng viên trong cơ sở GD ĐH công lập Theo quy định tại Khoản 1 Điều 66 Luật GD 2019 thì: Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở GD mầm non, GD phổ thông, cơ sở GD khác, GD trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là GV. Giảng viên là người thực hiện hoạt động giảng dạy ở các cơ sở GD ĐH. Pháp luật có quy định cụ thể trong công tác giảng dạy tại bậc ĐH.
10 Theo Điều 54 - Luật GD ĐH năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2018, quy định liên quan đến GV như sau: “1. Giảng viên trong cơ sở GD ĐH là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ; có trình độ đáp ứng quy định của Luật này, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở GD ĐH. Chức danh GV bao gồm trợ giảng, GV, GV chính, PGS, GS. Cơ sở GD ĐH bổ nhiệm chức danh GV theo quy định của pháp luật, quy chế tổ chức và hoạt động, quy định về vị trí việc làm và nhu cầu sử dụng của cơ sở GD ĐH.
Trình độ tối thiểu của chức danh GV GD trình độ ĐH là thạc sĩ, trừ chức danh trợ giảng; trình độ của chức danh GV GD trình độ thạc sĩ, TS là TS. Cơ sở GD ĐH ưu tiên tuyển dụng người có trình độ TS làm GV; phát triển, ưu đãi đội ngũ GS đầu ngành để phát triển các ngành đào tạo.” Từ các quy định nêu trên, có thể đưa ra khái niệm: GV trong cơ sở GD ĐH công lập là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp, làm việc theo chế độ hợp đồng, có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe; có năng lực, kỹ năng chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, đảm nhiệm công tác giảng dạy, NCKH và các hoạt động khác thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường ĐH công lập (khái niệm này không áp dụng đối với GV thỉnh giảng). Khái niệm động lực làm việc của giảng viên đại học Hiện nay, có khá nhiều khái niệm cũng như các nghiên cứu về ĐLLV và ĐLV của GV. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác nhau với các cách tiếp cận khác nhau sẽ đưa ra các khái niệm khác nhau cho vấn đề này.
Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012) cho rằng, “ĐLLV là sự khao khát, tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục 11 tiêu, kết quả nào đó” [3] Nguyễn Thị Phương Lan (2015) cho rằng, ĐLLV là sự thúc đẩy từ bên trong chủ thể hoặc do sự tác động từ bên ngoài tới chủ thể khiến họ tự nguyện, nỗ lực, phấn đấu vì mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức [7] ĐLLV của GVĐH: Từ các khái niệm đã phân tích, có thể định nghĩa: ĐLLV của GVĐH là sự thúc đẩy khiến cho GVĐH nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo năng suất và hiệu quả lao động cao, nhằm đạt được mục tiêu của bản thân người GV gắn liền với đạt mục tiêu của trường ĐH. Khái niệm tạo động lực làm việc cho GV Tạo động lực, về bản chất có ý nghĩa: khích lệ nhân viên nỗ lực làm việc để tăng chất lượng đầu ra của tổ chức. Các yếu tố chính mà hoạt động tạo động lực cần có: (1) chủ thể của tạo động lực - là những nhà lãnh đạo, nhà quản trị; (2) khách thể của tạo động lực - là những lao động của nhiều cấp khác nhau; (3) công cụ của tạo động lực - là những chính sách, chế độ mà nhà lãnh đạo sử dụng để kích thích, động viên NLĐ làm việc một cách hăng say nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.Từ đó, có thể hiểu tạo ĐLLV là quá trình mà nhà quản trị tìm ra yếu tố có tính thúc đẩy NLĐ tại những thời điểm khác nhau; lựa chọn, sử dụng các chính sách phù hợp tác động vào những yếu tố thúc đẩy của NLĐ, từ đó kích thích NLĐ nỗ lực, đóng góp hết mình vào việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Như vậy, có thể định nghĩa, tạo ĐLLV cho GV là một nội dung trong chức năng lãnh đạo của chủ thể quản lý trường ĐH, là hệ thống những biện pháp của chủ thể quản lý trường ĐH tác động đến đội ngũ GV nhằm làm cho GV có ĐLLV.
Khái niệm thù lao lao động và thù lao của GV 1. Khái niệm thù lao lao động Theo Lê Thanh Hà (2009): “TLLĐ là tất cả những khoản thu nhập mà NLĐ nhận được từ phía người sử dụng lao động thông qua việc bán sức lao động của mình” [5] Các khoản thu nhập hiểu theo nghĩa rộng gồm các khoản tài chính và phi tài chính, là những khoản NLĐ được nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Theo Đỗ Thị Tươi và Cộng sự (2018): “TLLĐ là tất cả những lợi ích mà NLĐ nhận được thông qua mối quan hệ thuê mướn giữa họ và tổ chức” [20] Các lợi ích NLĐ nhận được khi họ tham gia làm việc trong tổ chức như: TL, thưởng, phụ cấp, phúc lợi, cơ hội thăng tiến, tiến trình thăng tiến, vị thế trong xã hội, sự linh hoạt mềm dẻo về thời gian làm việc, sự cân bằng giữa cuộc sống cá nhân, gia đình và công việc,… Theo các quan điểm trên về TLLĐ, có thể hiểu: khoản thu nhập hay những lợi ích ở đây ngoài TL ra thì NLĐ còn nhận được nhiều khoản lợi ích vật chất hay tinh thần khác, hoặc TLLĐ mà NLĐ nhận được từ tổ chức gồm 2 phần là: phần là TLTC và thù lao phi tài chính. Trong Luận văn này, Học viên tiếp cận kết cấu TLLĐ trong tổ chức gồm hai nhóm: thù lao tài chính và thù lao phi tài chính.
Cụ thể, kết cấu TLLĐ trong trường hợp này được thể hiện ở Hình 1.1 dưới đây: 13 Thù lao lao động Thù lao tài chính Thù lao phi tài chính Thù lao cơ bản Khuyến khích Phúc lợi Nội dung Cơ hội (Tiền lương và Môi trường tài chính tài chính công việc phụ cấp lương) Phát triển làm việc Hình 1.1: Cơ cấu Thù lao lao động trong tổ chức (Nguồn: Đỗ Thị Tươi và Cộng sự, 2018) [20] Thù lao tài chính: Theo Đỗ Thị Tươi và Cộng sự (2018), TLTC là các lợi ích NLĐ nhận được bằng tiền, đó là các khoản thù lao được tổ chức thực hiện thông qua các công cụ bằng vật chất, giúp NLĐ tái sản xuất sức lao động. Nó bao gồm các khoản như: lương cơ bản, phụ cấp lương, tiền thưởng, bảo hiểm, trợ cấp xã hội, PLTC, an sinh xã hội… Trong đó lương cơ bản là nền tảng của hệ thống thù lao [20] Thù lao phi tài chính: Theo Đỗ Thị Tươi và Cộng sự (2018), “Thù lao phi tài chính là những lợi ích tinh thần mà NLĐ nhận được từ nội dung công việc (như: công việc hấp dẫn, nhiệm vụ thích thú, trách nhiệm công việc, tính ổn định của công việc, thời gian làm việc linh hoạt,.), cơ hội phát triển (như: cơ hội thăng tiến, cơ hội đào tạo, bồi dưỡng.) và môi trường làm việc (như: bầu không khí làm việc, quan hệ ứng xử trong tổ chức, điều kiện làm việc và vệ sinh an toàn lao động, công bằng trong tổ chức. Khái niệm thù lao lao động của giảng viên GV là một đối tượng lao động đặc biệt, là người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong các cơ sở GD ĐH. Họ sử dụng kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng của mình để tạo ra những sản phẩm đào tạo có chất 14 lượng tốt.
Theo cách định nghĩa về chung về thù lao như trên thì có thể hiểu về thù lao lao động của GV là tất cả những khoản thu nhập hay những lợi ích mà GV nhận được từ phía cơ sở GD ĐH công lập mà họ chính thức công tác thông qua việc thực hiện các hoạt động GD, hoạt động NCKH và một số hoạt động khác trong một thời kỳ nhất định. Trong Luận văn này, Học viên tiếp cận kết cấu thù lao lao động của GV trong cơ sở GD ĐH gồm hai nhóm: thù lao tài chính và thù lao phi tài chính. Thù lao tài chính của GV: là toàn bộ các khoản thu nhập bằng tiền mà GV nhận được từ hoạt động GD, NCKH và một số hoạt động khác trong cơ sở GD ĐH công lập mà họ chính thức công tác ở một thời kỳ nhất định. TLTC của GV toàn bộ các khoản tiền mà các GV nhận được từ cơ sở GD ĐH công lập mà họ chính thức công tác ở một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm các khoản TL, phụ cấp có nguồn trả từ ngân sách Nhà nước và các khoản thu nhập khác lấy từ kết quả hoạt động của cơ sở GD ĐH công lập.
Thù lao phi tài chính của GV: là toàn bộ các lợi ích phi tài chính mà GV nhận được từ nội dung công việc và môi trường làm việc trong cơ sở GD ĐH công lập mà họ chính thức công tác ở một thời kỳ nhất định 1.