chương 1 đã đưa ra tính cấp thiết để thực hiện đề tài nghiên cứu, xác định các mục tiêu nghiên cứu từ đó đặt ra các câu hỏi nghiên cứu, bên cạnh đó trình bày khái quát về phương pháp nghiên cứu được sử dụng, các kết quả đóng góp và kết cấu của đề tài. Chương 2 tiếp theo sẽ trình bày nền tảng, cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu bao gồm các lý thuyết kinh tế liên quan đến CTV và khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cũng như trong nước, từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CTV doanh nghiệp. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Chương 2 trình bày tổng hợp cơ sở lý thuyết, đồng thời hệ thống hóa các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về CTV và các nhân tố ảnh hưởng đến CTV của DN, từ đó phát triển giả thuyết nghiên cứu cho đề tài. Cụ thể ở mục 2.1 trình bày khái niệm về CTV, mục 2.2 giới thiệu các chỉ tiêu dùng để đo lường CTV, mục 2.3 là các lý thuyết nền về CTV, mục 2.4 trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định CTV của DN, mục 2.5 tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài.
Khái niệm cấu trúc vốn Vấn đề cấu trúc vốn (CTV) từ lâu rất được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu kinh tế học. Đã có rất nhiều nghiên cứu học thuật nhằm cung cấp, bổ sung và phát triển lý thuyết. Theo Ross, Westerfield và Jordan (2003), CTV của DN hay còn gọi là đòn bẩy tài chính, là sự kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Các nguồn tài trợ của DN bao gồm nợ và vốn chủ sở hữu.
Dựa vào bảng cân đối kế toán của DN, CTV được tiếp cận với các thành phần được sắp xếp theo nguyên tắc tính ổn định tăng dần (Ngô Kim Phượng và các tác giả, 2013), bao gồm hai nhóm: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Sự khác biệt giữa nợ và vốn chủ sở hữu được trình bày tại bảng 2.1: So sánh nợ và vốn chủ sở hữu STT Tiêu chí Nợ Vốn chủ sở hữu 1 Thời hạn Có thời hạn hoàn trả Không có thời hạn hoàn trả Trách nhiệm - Phải trả lãi đối với nợ - Không phải trả lãi mà thanh toán vay. chia lãi dựa vào kết quả kinh 2 - DN có thể bị phá sản doanh và chính sách phân nếu không thanh toán phối lợi nhuận. 8 STT Tiêu chí Nợ Vốn chủ sở hữu được nợ gốc và lãi.
- DN không bị phá sản nếu không chia lãi. Ảnh hưởng đến Lãi vay có tác động làm Lãi chia cho các chủ sở hữu 3 thuế thu nhập giảm thuế. không làm giảm thuế. DN Chi phí sử dụng Thấp.
4 vốn Nguồn: Ngô Kim Phượng và các tác giả (2013). Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn CTV được hiểu là cơ cấu nguồn vốn mà DN huy động để tài trợ cho tài sản của mình. Có nhiều yếu tố tác động đến CTV và trong thực tế khó đánh giá được chính xác tác động của từng yếu tố này đến CTV của DN. Các DN thông thường phải xác định một khoảng CTV tối ưu, còn gọi là CTV mục tiêu và từ đó nhà quản trị tài chính đưa ra quyết định CTV xoay quanh mục tiêu này.
CTV được đo lường thông qua hệ số nợ. Hệ số này cho biết các khoản nợ đã tài trợ cho bao nhiêu phần trăm chỉ tiêu tổng tài sản của DN. Hệ số nợ thấp có thể thấy DN sử dụng nợ chưa hiệu quả nhưng nếu ngược lại, hệ số nợ cao thể hiện sự thiếu tự chủ về tài chính và sẽ biến các khoản nợ này thành gánh nặng cho DN. Như vậy, DN phải xem xét vào khả năng tự tài trợ của mình; nhu cầu về tài chính và CTV chung của ngành để xác định một mức hệ số nợ hợp lý cho DN của mình.
Các thước đo chính để đo lường mức độ tối ưu của CTV của một DN là: hệ số nợ trên tổng tài sản, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu và hệ số tự tài trợ. Hệ số nợ trên tổng tài sản Nợ phải trả Hệ số nợ = x 100% Tổng tài sản Hệ số nợ trên tổng tài sản thể hiện mức độ sử dụng nợ của DN, chỉ số này cho biết DN đã dùng nợ để tài trợ cho bao nhiêu phần trăm tài sản. Hệ số này càng cao nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tài sản của DN, DN phụ thuộc cao 9 vào việc dùng nợ để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, hệ số này càng thấp thì mức độ phụ thuộc của DN vào các chủ nợ càng ít.
Hệ số nợ ngắn hạn phản ánh mức độ tài trợ tài sản của DN bằng các khoản nợ ngắn hạn, trong khi hệ số nợ dài hạn phản ảnh mức độ tài trợ tài sản của DN bằng các khoản nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn Hệ số nợ ngắn hạn = x 100% Tổng tài sản Nợ dài hạn Hệ số nợ dài hạn = x 100% Tổng tài sản Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu CTV còn được đo lường thông qua hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu. Hệ số này cho thấy tính tự chủ về tài chính của DN. Nợ phải trả Hệ số Nợ trên vốn chủ sở hữu = x 100% Vốn chủ sở hữu Nếu hệ số này lớn hơn 1 đồng nghĩa với nợ vay chiếm tỷ trọng lớn hơn vốn chủ sở hữu trong cơ cấu tổng nguồn vốn của DN, ngược lại khi hệ số này nhỏ hơn 1 thể hiện DN đang sử dụng vốn chủ sở hữu nhiều hơn vốn vay.
Hệ số tự tài trợ Hệ số này cho biết khả năng tự đảm bảo và mức độ độc lập về tài chính của DN. Việc xác định mức độ hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào chính sách và lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính của DN. Vốn chủ sở hữu Hệ số tự tài trợ = x 100% Tổng tài sản Hệ số tự tài trợ càng lớn chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của DN càng cao, mức độ phụ thuộc vào nợ vay của DN ở mức thấp, tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc DN chưa tận dụng tối đa lợi thế của đòn bẩy tài chính. Một số lý thuyết về cấu trúc vốn 2.
Lý thuyết cấu trúc vốn của Modiligani và Miller (M&M) Đây là nghiên cứu khởi đầu cho các nghiên cứu về CTV hiện đại do Modiglani & Miller đưa ra năm 1958 và đã đạt giải Nobel kinh tế cùng năm. Lý thuyết M&M nghiên cứu về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và giá trị của DN trong hai trường hợp: không có thuế (năm 1958) và có thuế (năm 1963). Lý thuyết M&M trong trường hợp không có thuế Hai tác giả khẳng định rằng việc lựa chọn giữa vốn chủ sở hữu và nợ không liên quan đến giá trị DN, do đó DN có thể tùy ý lựa chọn nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Lý thuyết này được đưa ra trên cơ sở các giả định: - Thị trường tài chính hoạt động hiệu quả và hoàn hảo, không có chi phí môi giới và thông tin trên thị trường được thông suốt, tức là nhà đầu tư và DN đều có thông tin giống nhau về cơ hội đầu tư và sự phát triển của DN trong tương lai.
- Lãi suất áp dụng đối với DN và các nhà đầu tư là như nhau. - Không có thuế thu nhập DN và thuế thu nhập cá nhân. - Các khoản nợ là phi rủi ro và lãi suất vay cũng là lãi suất phi rủi ro. - Tất cả các dòng tiền đều có tính liên tục.
Giả sử có hai doanh nghiệp: DN có sử dụng nợ vay D (Debt) với giá trị DN là VL và DN không sử dụng nợ vay U (Unleveraged) với giá trị DN là VU. Theo lý thuyết M&M thì: VL = V U Hình 2.1: Giá trị của doanh nghiệp theo lý thuyết M&M khi không có thuế Giá trị của doanh nghiệp VL = V VU D Nguồn: Modigliani và Miller (1958) 11 Như vậy, lý thuyết M&M đã đưa ra kết luận về giá trị DN trong điều kiện các giả thuyết đều đạt yêu cầu đề ra. Tuy nhiên trong thực tế, các yếu tố như sự bất cân xứng thông tin, thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân luôn luôn tồn tại. Bên cạnh đó, giả thuyết còn tồn tại sự bất hợp lý trong trường hợp nợ vay tăng lên sẽ dẫn đến lãi suất vay cũng tăng lên tương ứng, từ đó lợi nhuận trước thuế và lãi vay sẽ khác nhau tương ứng với các mức độ sử dụng nợ khác nhau.
Vì vậy, khi DN càng sử dụng nhiều nợ vay thì khả năng phá sản của DN cũng sẽ tăng cao tương ứng. Tuy lý thuyết M&M đưa ra trong điều kiện các giả thuyết đều khó tồn tại trong thực tiễn, nhưng những lập luận từ lý thuyết này đã tạo nên tiền đề cho những suy luận và mô hình nghiên cứu sau này bằng cách loại dần các giả thuyết không hợp lý. Lý thuyết M&M trong trường hợp có thuế Sau 5 năm nghiên cứu và phát triển lý thuyết M&M (1958), Modigliani và Miller cho rằng giá trị của DN có vay nợ lớn hơn giá trị của DN được tài trợ hoàn toàn bằng vốn chủ sở hữu do chi phí lãi vay được khấu trừ thuế. Định đề I – Giá trị doanh nghiệp Theo đó, lý thuyết M&M khuyến khích các DN vay nợ để tận dụng lợi thế về thuế (hay còn gọi là tận dụng lá chắn thuế), điều này giúp DN tiết kiệm được một phần thuế thu nhập phải nộp, và do đó giúp làm gia tăng giá trị của DN trên thị trường.
Giả sử trong trường hợp có thuế thu nhập DN, giá trị DN vay nợ (VL) lớn hơn giá trị công ty không vay nợ (VU) một lượng bằng với hiện giá của lá chắn thuế. VL = V U + T * D Trong đó: - T: thuế suất thuế thu nhập DN - D: giá trị của nợ vay 12 Hình 2.2: Định đề I của lý thuyết M&M trong trường hợp có thuế Giá trị của doanh nghiệp VL = VU + T * D VU T * D VU D Nguồn: Modigliani và Miller (1963) Như vậy, lợi ích của DN có vay nợ bằng với lợi ích của DN không vay nợ cộng với khoản tiết kiệm thuế hàng năm.