CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE CÁC TINH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ TNHS l Pháp luật hình sự Việt Nam từ trước đên nay đêu không đưa ra khải niệm về tình tiết giảm nhẹ TNHS. Theo từ điển Luật học thì thuật ngữ “tinh tiết giảm nhẹ TNHS* được hiểu là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể của một loại tôi phạm giảm đi so với trường hợp bình thường và do đó được coi là căn cứ dé giảm nhẹ TNHS đối với trường hợp pham tôi đó. Như vậy, tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể hiểu là những tình tiết trong vụ án có ý nghĩa lam giảm nhẹ mức độ TNHS của người phạm tội.
Tuy nhiên hiện nay diễn dan khoa hoc còn tôn tai nhiều quan điểm khác nhau về van dé nay. Co quan điểm cho rằng. “Các tinh tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết được quy định trong BLHS hoặc do Toà an phan ảnh mức độ nguy hiểm cho xấ hội của hành vi phạm tôi, khả năng cải tao, giáo duc người pham tội cũng nine hoàn cảnh đặc biệt của ho. Những tình tiết này có ý ngiữa làm giảm mức đô INHS của người phạm tội ”.2 Quan điểm khác thi cho rang: “Các tinh tiết giảm nhẹ TNHS là các tình Tiết trong một vụ dn cu thé mà nó sẽ làm giảm INHS của người phan tôi trong một khung hình phạt” 3 Bên cạnh đó, lại có quan điểm khác cho rằng.
“Các tình tiết giảm nhẹ, tăng năng trách nhiệm hình sự là những tình tiết không có ý nghĩa về mặt định tội, đĩnh khung hình phat mà chỉ có tác dung làm tăng hoặc giảm mức độ TNHS trong một phạm vi một khung hình phạt nhất đinh”.4 ` Từ điễn Luật học (1999), Nxb. Công am nhân din, Hà Nội tr, 116. * Định Vin Quê (2017), Bivh lun Ehoa học 36 luật hình sục nian 2015 phẩn thứ nhất những qnạ: dinh cương Nob Thông tm và truyện thông, HÀ Nội,228 * Dương Tuyết Miền (2003), Các tink riết giã nhe, tăng ning tách niêm hinh sự theo Bộ luật hình su năm 1999, Tạp chi Toa ín nhân, ), *Ðạihọc Luật Thành phd Hé Chi Minh, Giáo mình Luật Hinh su Vigt Nem (Phẩn ciưang) TS, Trần Thủ Quing Vinh chủ biền, NXB Hong Đức, 307- 308. Như vậy, từ những góc độ khác nhau, các tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau về tình tiết giảm nhẹ.
Điểm khác biệt chủ yếu giữa các tác giả là ở việc xác định căn cứ, giới han, pham vi ảnh hưởng, tac động của chúng. Nhưng nhìn chung các quan điểm dua theo quy định pháp luật chỉ thể hiện được một dạng của các tỉnh tiết giảm nhẹ TNHS mà chưa thể hiện được toàn điện nôi dung, ban chat của chúng. Có thể thay néu chỉ được xem xét theo nghĩa hep các tình tiết giảm nhẹ TNHS là các tình tiết được quy định ở phân chung Điều 51 BLHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật liên quan thì các tình tiết định tdi, định khung hình phat không phải là tình tiết giảm nhẹ TNHS. Khác các quan điểm nêu trên, PGS.
Tran Thị Quang Vinh lại cho rằng “Các tinh tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết của vụ án hinh sự liên quan đến việc giải quyết TNHS, có ý nghia làm giảm mite độ nguy hiểm cho xã hôi của hành vi phạm tội, phan ánh kha năng cải tao tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đứng được khoan hông và giá tri giảm nhe của chủng chưa được ghi nhận trong chế tài” Theo đó, TS. Tran Thị Quang Vinh đã chỉ ra rang néu chỉ xét tình tiết giém nhẹ là những tình tiết có y nghĩa giảm hình phạt trong một khung hình phạt thì sẽ là thu hep so với chính tên gọi là kha năng ảnh hưởng của tình tiết giãm nhẹ đến TNHS. Bởi lế, nội dung của TNHS như đã dé cập ở trên không chỉ bao gôm hình phạt mà còn bao gôm việc bi kết án, bị ap dụng hình phạt, biện pháp tư pháp và mang án tích. Trên cơ sở phân tích quy định của pháp luật hình sự cũng như một số quan điểm khác nhau, em rút ra được khái niệm: “Tinh tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết của vụ dn hình sự.
đã được guy dinh trong BLHS hoặc do Toa đm xác dink, phan anh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tôi, kha năng cải tao, giáo duc hoặc hoàn canh đặc biệt của người pham tội. Những tình tiết nà) có ý nghĩa làm giảm mức 46 TNHS của người phạm tôi” > Trần Thị Quang Vinh (2002), Các tinh tiết giấm nữa trách nhiệm hình sự trong Luật hink sự Việt Nam, luận an tien sĩ luật học, Viện nghiền cứa nhà ruyớc và pháp Mật tr 32 Như vậy, từ những góc độ khác nhau, các tac gia đưa ra những khái niệm khác nhau về tình tiết giảm nhẹ. Nhưng nhìn chung các quan điểm dua theo quy định pháp luật chỉ thể hiện được một dạng của các tình tiết giãm nhẹ TNHS. Đặc điểm cửa các tình tiết giảm nhẹ TNHS Qua nghiên cứu khai niệm các tinh tiệt giam nhẹ TNHS đã nêu ở trên và từ phân tích của BLHS hiện hảnh cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của các tình tiết giảm nhẹ TNHS như sau Thi nhất, tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định cụ thé trong BLHS (bao gồm 22 tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Ngoài ra, nó còn được ghi nhận trong Nghị quyết sé 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Tham phán Toa án nhân dan tdi cao hướng dan áp dung một số quy định về Phan chung của BLHS năm 1999. Thậm chí, trong quá trình xét xử, Tòa án có thé tự minh xem xét, cân nhắc coi những tình tiết khác là tinh tiết giảm nhẹ TNHS và ghi ré ly do trong bản án (khoản 2 Điều 51 BLHS). Đặc điểm này có hai van dé cân chú ý: Trude hết, những tình tiết giảm nhẹ TNHS nao được BLHS quy định với tính cách là yếu tô định tôi hoặc là yêu tô định khung hình phat đôi với một tội phạm được nêu tại phan các tôi phạm cu thể thi trong quá trình xét xử, Tòa án không được xem xét nó như là tình tiết gảm nhẹ chung được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Nghia là một tình tiết giảm nhẹ cho dù biểu hiện đưới hình thức nào thì cũng không thể được áp dụng hai lần cho một trường hợp pham tội cụ thể.
Tiép đó, việc cho phép Toa án có thé coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS trong từng vu án đôi với từng bị cáo cu thể nhằm mở rộng tính linh hoạt, sáng tao trong hoạt động xét xử của Toa án, bao dam cho hoạt động xét xử được công bằng, chính xác, khách quan Nó giúp Tòa án tính toán được sự tương xứng giữa mức độ nguy hiểm của hành vi pham tội với chế tai hình sự. Vậy, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 quy định cho phép Tòa án xem xét các tình tiết khác ngoài những tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 năm 2015 1a tình tiết giảm nhe TNHS trong hoạt động xét xử là hop ly va can thiết 10 Thứ hai, tình tiết giảm nhẹ TNHS là căn cử để Toa án cân nhắc, xem xét việc áp dụng hình phạt theo hướng nhẹ hơn đối với người phạm tdi, no phan anh các dién biên bên ngoải của mặt khách quan cũng như dién bién tâm ly bên trong của mặt chủ quan trong cau thảnh tội phạm hoặc phản ánh yêu tó nhân thân người phạm tôi, góp phan mô tả tôi phạm, giúp chúng ta hình dung được mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi pham tội néu đặt nó trong sư so sánh với trường hợp phạm tôi tương tự ma không có tình tiết giảm nhẹ TNHS. Ngoài ra còn có một sô tình tiết không trực tiếp phan ánh về tdi phạm nhưng lại có ý nghĩa trong việc giải quyết van dé TNHS, thể hiện kha năng cải tao tốt của người pham tội hoặc thé hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự. Thit ba, tình tiết giảm nhẹ TNHS ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt như thé nao là do Toa án cân nhắc, xem xét.
Sự hiện dién của tình tiết giảm nhẹ TNHS là căn cứ dé Toa án đánh giá, xem xét tinh chat, mức đô nguy hiểm của hành vi phạm tôi, coi đó là một trong những căn cứ dé quyết định hình phạt. Các tình tiết giảm nhe TNHS được quy định tại Điêu 51 BLHS năm 2015 có nội dung khác nhau nên mức đô giảm nhe cũng khác nhau. Giá trị của các tình tiết giảm nhẹ TNHS sé còn tuỷ thuộc vao nhiêu yêu tô cá biệt cho từng trường hợp khác nhau. Củng một tình tiết giam nhẹ, nhưng đối với tôi pham khác nhau thi mức độ giảm nhẹ cũng khác nhau.
Pháp luật không quy định cụ thể sự hiện diện của tình tiết giảm nhẹ sẽ ảnh hưởng như thé nào dén việc quyết định hình phạt, sự hiện hữu của tinh tiết nao thì được giảm TNHS đến đâu, điều đó phụ thuộc vào sự xem xét vả cân nhắc của Toa án Thứ te, mức độ ảnh hưởng của từng tình tiết đến việc quyết định hình phạt của Toa án la không giéng nhau. Các tinh tiết giảm nhe TNHS có ý nghĩa pháp lý, xã hội, chính trị không dong đều nhau, có tinh tiết ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt nhưng có tinh tiết lại ảnh hưởng ít hơn. Không những thé, cùng một tinh tiết giảm nhẹ TNHS, nhưng co mức độ ảnh hưởng khác nhau đôi với những tôi khác nhau. Có tình tiết chỉ có ý nghĩa đáng kế với 11 một số tội phạm, còn đôi với những tội pham khác thi chỉ có ý nghĩa rất han chế$S 13.Ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ TNHS 1.
Y nghĩa xã hội ` Trong việc cụ thê hoá chính sách hình sự của Nhà nước ta, xác định các nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trong. Chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS “có J' ngiữa lớn cá về mặt xã hội ciing nine pháp if.” nên thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng cao hiệu qua van dung ché định các tinh tiết giảm nhẹ TNHS.