Chương 1: giới thiệu khái quát về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và những điểm nổi bật của nghiên cứu. Chương 2: trình bày tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm, tác động lên TSSL ban đầu từ hoạt động IPO. Chương 3: trình bày phương pháp nghiên cứu, đưa ra mô hình nghiên cứu, biến nghiên cứu, cách thức thu thập và xử lý số liệu. Chương 4: trình bày bằng chứng thực nghiệm về TSSL ban đầu của các đợt IPO tại TTCK Việt Nam và thảo luận các kết quả tìm được.
Chương 5: kết luận, đánh giá các hạn chế của nghiên cứu và đưa ra các đề xuất về IPO tại TTCK Việt Nam. 123doc 6 CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM, TÁC ĐỘNG LÊN TSSL BAN ĐẦU TỪ HOẠT ĐỘNG IPO 2.1: Tổng Quan Về IPO 2.1: Khái niệm IPO Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng còn gọi là IPO (Initial Public Offering) là việc một doanh nghiệp lần đầu phát hành cổ phần thường của mình ra công chúng. Trong vòng đời của mình, mỗi doanh nghiệp chỉ có một lần thực hiện IPO. Một phần của IPO có thể là cung ứng lần đầu (công ty phát hành cổ phần để huy động vốn mới), hoặc là cung ứng lần thứ hai, đó là việc những cổ đông trước IPO (thường là những nhà sáng lập hoặc các quỹ đầu tư mạo hiểm đã đầu tư vào công ty trong giai đoạn khởi sự) chuyển giao một phần tài sản của họ cho các cổ đông mới bằng việc bán một số cổ phần của mình trong đợt IPO.
Trong hoạt động IPO, có 3 chủ thể chính tham gia: nhà phát hành, nhà bảo lãnh và nhà đầu tư. Sau hoạt động IPO, cấu trúc sở hữu và cơ chế quản lý của công ty sẽ thay đổi đáng kể.2: Xác định giá IPO Việc định giá IPO thông thường theo 3 cơ chế: đấu giá (Auctions), chào bán với giá cố định (Fixed Price Offer), đăng ký ghi sổ (Book Building). Cụ thể như sau: Trong cơ chế đấu giá (Auctions): giá cả được xác định dựa vào giá đấu của nhà đầu tư, nghĩa là giá sẽ được xác định trong cuộc đấu giá. Nhà phát hành đưa ra một mức giá tối thiểu, và số lượng cổ phần cần phát hành, các nhà đầu tư tham gia đấu giá dựa vào đó để đưa ra số lượng cổ phần cần mua và mức giá mà họ sẵn lòng trả.
Trong cơ chế chào bán với giá cố định (Fixed Price Offer): giá phát hành được xác lập từ trước. Đầu tiên, nhà phát hành đưa ra giá cổ phần, nếu nhà đầu tư đồng ý mua với mức giá đó, họ sẽ thực hiện đăng ký mua. 123doc 7 Trong cơ chế đăng ký ghi sổ (Book Building): các nhà bảo lãnh phát hành sẽ thực hiện các cuộc giới thiệu chứng khoán của tổ chức phát hành đến các nhà đầu tư tiềm năng để xác định tổng mức cầu và giá mà các nhà đầu tư sẵn lòng chi trả, sau đó cùng với doanh nghiệp xác lập ra mức giá chào bán. Thông thường, đầu tiên nhà bảo lãnh sẽ thông báo cho các nhà đầu tư tiềm năng những số liệu ước tính về giá cổ phiếu và số lượng cổ phiếu dự kiến phát hành.
Tiếp theo nhà bảo lãnh phát hành sẽ thực hiện các cuộc giới thiệu chứng khoán đến các nhà đầu tư. Sau cùng, nhà bảo lãnh sẽ xây dựng một danh sách dựa trên các ghi nhận số lượng cổ phiếu mà các nhà đầu tư tiềm năng muốn mua tại các mức giá. Tuy nhiên, dù có nhiều cơ chế để định giá nhưng không phải thị trường nào cũng thực hiện tất cả các cơ chế này. Mỗi thị trường sẽ áp dụng phương pháp định giá riêng cho mình.
Sherman (2001) đã cho rằng, trong các cơ chế định giá thì cơ chế đăng ký ghi sổ được ưa thích hơn. Ủng hộ kết quả này, nghiên cứu của Ljungqvist và các cộng sự (2003) cũng tìm ra trong hơn 80% những trường hợp IPO ngoài nước Mỹ và Canada đều được định giá theo phương pháp ghi sổ. Theo nghiên cứu của Sherman (2004), các ưu điểm của cơ chế đăng ký ghi sổ giúp cơ chế này được ưa thích hơn các cơ chế khác là vì theo cơ chế này, các nhà bảo lãnh phát hành sẽ kiểm soát tốt hơn về chất lượng nhà đầu tư tham gia vào các đợt IPO. Bên cạnh đó, mức giá được các nhà đầu tư đưa ra chính xác hơn vì các nhà đầu tư có nghiên cứu kỹ về các công ty.
Do đó, rủi ro cho công ty IPO và cả nhà đầu tư sẽ giảm đi, đồng thời hạn chế việc định dưới giá. Vì vậy, cơ chế ghi sổ là cơ chế được ưa thích ở nhiều quốc gia.3: Định dưới giá các công ty IPO Đa số các cổ phiếu IPO khi phát hành ra công chúng được định dưới giá. Định dưới giá được hiểu là giá trị thị trường của cổ phiếu đang thấp hơn giá trị thực tại của công ty hay chệnh lệch giữa giá trị nội tại và giá chào bán là dương. Giá trị nội tại ở đây được 123doc 8 xác định bằng cách chiết khấu các dòng tiền tương lai của công ty về thời điểm hiện tại.
Tuy nhiên việc đo lường này khó thực hiện được vì tính không chắc chắn của dòng tiền, việc thực hiện chiết khấu dòng tiền gặp nhiều trở ngại. Do đó, việc xác định hiện tượng định dưới giá còn được thực hiện bởi mốt số phương pháp khác như: Theo nghiên cứu của Trần Thị Hải Lý và các cộng sự (2013) và Thân Thị Thu Thủy và các cộng sự (2014), mức độ định dưới giá được tính toán từ tỷ suất sinh lợi vượt trội điều chỉnh bởi tỷ suất sinh lợi thị trường tại ngày giao dịch đầu tiên. Trong nghiên cứu của Purnanandam và Swaminathan (2004) và Yan Gao (2010) mức độ định dưới giá được đo lường bằng chênh lệch giữa giá chào bán và giá trị nội tại của công ty. Trong đó, giá trị nội tại được tính bằng cách sử dụng phương pháp bù giá trị từ các công ty tương tự.
Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng, các công ty IPO có khuynh hướng bị định giá thấp bởi các nhà phát hành. Việc này dẫn đến TSSL cao bất thường cho các nhà đầu tư khi mua ở mức giá của cá nhà bảo lãnh đưa ra. Đã có nhiều nghiên cứu về việc định dưới giá và cho rằng đây là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TSSL ban đầu cao cho nhà đầu tư khi mua cổ phiếu IPO. Từ những năm 1970, các nghiên cứu của đã chỉ ra rằng, các doanh nghiệp có xu hướng định giá thấp giá trị cổ phiếu của họ khi IPO.
Do đó, giá thị trường của cổ phiếu sẽ tăng mạnh trong ngày giao dịch đầu tiên, gây nên TSSL cao bất thường. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Krigman (1999), định dưới giá khi IPO sẽ làm tăng TSSL trong thời gian phát hành lần đầu. TSSL này sẽ tiếp tục được duy trì trong 3 tháng sau khi IPO, sau đó TSSL này sẽ bắt đầu suy giảm trong dài hạn. Bên cạnh đó Krigman (1999) cũng chỉ ra rằng, việc định dưới giá sẽ giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thu hút vốn trong các đợt phát hành cổ phần tiếp theo vì được các nhà đầu tư quan tâm.4: Giả thuyết giải thích hiện tượng định dưới giá và TSSL ban đầu của hoạt động IPO Lý thuyết thông tin bất cân xứng Việc định giá thấp giá trị công ty IPO có nhiều lý do.
Trong số đó phải nhắc đến việc không chắc chắn về giá trị của cổ phiếu phát hành. Khoảng cách không chắc chắn sẽ tăng lên nếu bất cân xứng thông tin giữa những nhà đầu tư có thông tin và nhà đầu tư không có thông tin càng lớn. Theo các nhà kinh tế học, việc bất cân xứng thông tin xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin hơn bên còn lại. Nói cách khác, đó là việc mất cân bằng trong việc nắm giữ thông tin của các bên tham gia giao dịch.
Lúc này, thông tin không được phản ánh đầy đủ vào giá cả và đây không phải là giá trị thực của hàng hóa, dẫn đến thị trường không hiệu quả. Lý thuyết thông tin bất cân xứng được biết đến nhiều nhất và giải thích cho việc định giá thấp của một đợt IPO là lý thuyết “Lời nguyền của người chiến thắng” của Rock (1986). Rock cho rằng các nhà đầu tư có thông tin không giống nhau về giá trị hợp lý của cổ phần. Trong khi các nhà đầu tư thiếu thông tin đăng ký vào tất cả các đợt IPO thì các nhà đầu tư có thông tin chỉ đăng ký vào các đợt IPO mà giá phát hành thấp hơn giá trị hợp lý của công ty đó.
Điều này gây ra “Lời nguyền của người chiến thắng” lên các nhà đầu tư không có thông tin. Do đó, các nhà phát hành phải chọn giá chào bán với giá trị thấp hơn giá trị hợp lý để thu hút các nhà đầu tư không có thông tin trên thị trường vì không có tổ chức đầu tư nào có thể mua hết tất cả các cổ phiếu IPO trong một đợt phát hành. (2002) đã thực hiện nghiên cứu về TSSL bất thường trong ngắn hạn tại Trung Quốc từ năm 1996 đến năm 2000. Các bằng chứng thực nghiệm đã chỉ ra rằng, lý thuyết bất cân xứng thông tin giải thích việc định dưới giá các công ty IPO tại Trung Quốc.
123doc 10 Lý thuyết định giá thời điểm thị trường Đây là một lý thuyết trái ngược với lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đánh đổi. Nếu như lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng các doanh nghiệp ưu tiên huy động vốn theo trật tự thì lý thuyết định giá thời điểm thị trường dựa vào thời điểm thị trường để quyết định chính sách nợ hay vốn chủ sở hữu. Nghiên cứu của Lucas và McDonald (1990) thông qua mô hình thông tin bất cân xứng đã chỉ ra rằng các công ty trì hoãn phát hành nếu họ biết họ đang bị đánh giá thấp. Nếu giá trị công ty đang được đánh giá thấp trên thị trường thì các công ty sẽ trì hoãn thời gian IPO của mình đến khi thị trường tăng giá trở lại để cổ phần có giá cao hơn.
Nghiên cứu của Baker và Wurgler (2012), cũng cho rằng thời điểm thị trường là yếu tố đầu tiên quyết định cấu trúc vốn là sử dụng nợ hay vốn cổ phần. Các công ty không quan tâm đến việc lựa chọn giữa nợ hay vốn chủ sở hữu, họ chỉ quyết định dựa trên thời điểm thị trường, phương án được chọn sẽ là phương án có giá trị cao hơn giá trị trên thị trường tài chính.