CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về tính kịp thời của BCTC nhưng chủ yếu tập trung vào những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán phát triển. Mỗi nghiên cứu tập trung vào những khía cạnh khác nhau dẫn đến các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC cũng khác nhau. Để hiểu rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, luận văn trình bày tóm tắt các đề tài nghiên cứu có liên quan ở các nước trên thế giới và tại Việt Nam.1 Các nghiên cứu trên thế giới Với mục tiêu nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC hàng quý sàn giao dịch chứng khoán Kuala Lumpur, tác giả Ku Ismail & Chandler (2004) với bài báo “The timeliness of quarterly financial reports of companies in Malaysia”. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về tính kịp thời của báo cáo hàng quý tại Malaysia của 117 công ty.
Nghiên cứu về tính kịp thời của báo cáo kiểm toán được xác định là số ngày giữa ngày lập báo cáo tài chính và ngày báo cáo kiểm toán. Trung bình, mất khoảng 56 ngày để các công ty phát hành báo cáo, trễ hơn so với các công ty ở một số quốc gia khác. Kết quả cho thấy rằng tính kịp thời của báo cáo hàng quý của các công ty bị ảnh hưởng bởi quy mô công ty, lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng và tỷ suất vay vốn theo hướng mong đợi. Các công ty lớn hơn, có lợi nhuận, đang phát triển và có tỷ suất vay thấp thường có xu hướng công bố báo cáo nhanh hơn các công ty khác.
Những phát hiện này phù hợp với những phát hiện được báo cáo trong tài liệu. Thứ nhất, phát hiện này ủng hộ lý thuyết cho rằng các công ty lớn báo cáo nhanh hơn vì họ chịu áp lực phải làm như vậy. Các công ty lớn thường theo sau bởi các nhà phân tích cần thông tin kịp thời để xác nhận kỳ vọng của họ. Thứ hai, lợi nhuận và tăng trưởng có liên quan cho thấy tin xấu sẽ mất nhiều thời gian hơn để tiếp cận công chúng hơn là tin tốt lành.
Những phát hiện này cũng ủng hộ 'lý thuyết các bên liên quan' mà cho rằng trong trường hợp không có cơ hội để che giấu tin xấu vì bị tiết lộ bắt buộc, các nhà quản lý có động cơ trì hoãn tin 7 xấu. Thứ ba, phát hiện rằng các doanh nghiệp có đòn bẩy cao báo cáo chậm hơn so với các doanh nghiệp có lợi nhuận thấp là phù hợp với tài liệu cho thấy rằng một công ty có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cao có nhiều khả năng là thất bại, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế kém. Như thất bại có nghĩa là tin xấu, và tin xấu liên quan đến sự chậm trễ, một công ty có đòn bẩy cao có khuynh hướng báo cáo chậm hơn so với một công ty có đòn bẩy thấp. Thực tế là một số lượng lớn các công ty có xu hướng thực hiện kéo dài các báo cáo hàng quý, đặc biệt là các báo cáo kỳ ngắn hạn, công bố tin xấu và có đòn bẩy cao, có thể có ý nghĩa đối với các quy định trong tương lai về tính kịp thời của báo cáo hàng quý tại Malaysia.
Kế đến là Owusu-Ansah và Stergios Leventis (2006) với nghiên cứu “Timeliness of Corporate Annual Financial Reporting in Greece” đăng trên tạp chí European Accounting Review, Vol. Nghiên cứu nhằm báo cáo kết quả của một nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính hàng năm của 95 công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Athens. Trong nghiên cứu này, tác giả điều tra tác động đặc điểm của công ty và các yếu tố kiểm toán liên quan đến môi trường kinh tế xã hội Hy Lạp. Các yếu tố cụ thể của công ty là: Quy mô công ty (SIZE), đòn bẩy tài chính (GEAR), cổ phần nắm giữ bên trong công ty (EQOS) và lĩnh vực hoạt động (INDT).
Các yếu tố kiểm toán bao gồm: ý kiến của kiểm toán viên (RMAK) và loại công ty kiểm toán (AUDT). Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công ty. Kết quả thống kê mô tả chỉ ra rằng 92% các công ty được báo cáo sớm (so với thời hạn quy định 161 ngày), 3% báo cáo vào ngày thứ 161 và 5% báo cáo trễ. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy rằng các công ty lớn, các công ty dịch vụ và các công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán Big 5 (Arthur Andersen, KPMG Peat Marwick, Ernst & Young, Pricewaterhouse Coopers, Deloitte & Touche) có thời gian báo cáo cuối cùng ngắn hơn.
Nghiên cứu nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ cho thấy rằng các công ty có tỷ lệ vốn cổ phần do người nội bộ nắm giữ trực tiếp hay gián tiếp nhiều hơn thường không kịp thời công bố báo cáo tài chính đã được kiểm toán ra 8 công chúng sau năm tài chính kết thúc. Ngoài ra, tác giả không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho thấy sự ảnh hưởng của chi phí giám sát đến tính kịp thời của BCTC. Tiếp đến là nghiên cứu của J. Boritz (2006) với bài báo “Determinants of the Timeliness of Quarterly Reporting: Evidence from Canadian Firms”.
Nghiên cứu này xem xét các yếu tố ảnh hưởng về tính kịp thời của báo cáo hàng quý tại Canada. Dựa trên nghiên cứu trước đây, tác giả đưa ra giả thuyết rằng báo cáo tài chính giữa niên độ được công bố nhanh hơn bởi các công ty có tính minh bạch cao về môi trường thông tin so với các doanh nghiệp có tính minh bạch thấp về môi trường thông tin. Tác giả cũng đưa ra giả thuyết rằng các doanh nghiệp có nhiều vấn đề trọng yếu có nhiều khả năng trì hoãn việc công bố báo cáo tài chính giữa niên độ của họ hơn các doanh nghiệp có ít vấn đề trọng yếu hơn. Tác giả đã cung cấp bằng chứng cho thấy môi trường thông tin của doanh nghiệp và các vấn đề trọng yếu có liên quan đến tính kịp thời của báo cáo hàng quý.
Các công ty không có báo cáo tài chính giữa niên độ được kiểm toán có khuynh hướng công bố báo cáo tài chính chậm trễ hơn các doanh nghiệp có báo cáo tài chính giữa niên độ được xét duyệt. Nghiên cứu cho thấy ý kiến kiểm toán, thu nhập của công ty, môi trường thông tin và các chi phí hoa hồng đại lý của công ty có thể ảnh hưởng đến tính kịp thời của các báo cáo tài chính giữa niên độ. Tiếp theo là nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời kiểm toán ở hai nước đang phát triển là UAE và Bahrain. Đó là nghiên cứu của Khasharmeh va Aljifri (2010) với bài báo “The timeliness of annual reports in Bahrain and the United Arab Emirates: An empirical comparative study” trên tạp chí The International Journal of Business and Finance Research, Volume 4, Number 1 nhằm kiểm tra thực nghiệm các yếu tố quyết định sự chậm trễ kiểm toán ở hai nước đang phát triển: các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE) và Bahrain.
Nghiên cứu này sử dụng một mẫu gồm 83 công ty niêm yết trong năm 2004. Các mẫu đều được lấy từ dữ liệu thị trường chứng khoán UAE hoặc Bahrain. Phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết của nghiên cứu. Tác giả xây dựng 9 mô hình về tính kịp thời của báo cáo kiểm toán được phát triển dựa trên mô hình trước đó của Ashton và cộng sự (1989); Carslaw và Kaplan (1991).
Mô hình gồm các biến: Tỷ số nợ; Loại công ty kiểm toán; Lĩnh vực hoạt động (bao gồm công ty hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, dịch vụ, sản xuất công nghiệp); Quy mô công ty; Hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu (P/E); Khả năng sinh lời; Tỷ lệ chi trả cổ tức. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy bốn biến : tỷ suất lợi nhuận, tỷ số nợ, lĩnh vực hoạt động và tỷ lệ chi trả cổ tức có ảnh hưởng mạnh tính kịp thời của báo cáo hàng năm. Tuy nhiên, ba biến khác gồm loại công ty kiểm toán, quy mô doanh nghiệp và tỷ số P/E được tìm thấy có tác động yếu đến tính kịp thời. Tại UAE, nghiên cứu kết luận rằng hai biến số: tỷ lệ nợ và loại công ty kiểm toán có ảnh hưởng mạnh đến tính kịp thời, trong khi các biến khác được tìm thấy không có ảnh hưởng đáng kể.
Với mục tiêu đo lường tính kịp thời của báo cáo tài chính, tác giả Asli Turel (2010) với nghiên cứu “Timeliness of financial reporting in emerging capital markets:Evidence from Turkey” (Tính kịp thời của BCTC tại các nền kinh tế phát triển: Bằng chứng từ Thổ Nhĩ Kỳ) đăng trên tạp chí Istanbul University Journal of the School of Business Administration Vol:39, No:2, 227 – 240 ISSN: 1303 - 1732. Báo cáo khảo sát thực nghiệm mối quan hệ giữa TKT và các yếu tố liên quan đến báo cáo kiểm toán của CTNY tại một nước đang phát triển Thổ Nhĩ Kỳ. Mẫu nghiên cứu gồm các báo cáo tài chính của 211 công ty phi tài chính được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Istanbul. Phân tích mô tả cho thấy 59% các công ty chuẩn bị báo cáo tài chính riêng và 66% công ty chuẩn bị báo cáo tài chính hợp nhất phát hành báo cáo tài chính ít hơn thời gian tối đa cho phép sau năm tài chính.
28% các công ty chuẩn bị báo cáo tài chính riêng và 16% các công ty chuẩn bị báo cáo tài chính hợp nhất vượt quá thời hạn quy định. Tác giả nhận xét rằng hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào BCTC của các CTNY ở các nước phát triển, Do đó, tác giả tiến hành khảo sát tác động các nhân tố ảnh hưởng đến BCTC của các CTNY ở những nền kinh tế mới phát triển. Nghiên cứu tiến hành khảo sát các nhân tố: quy mô công ty, thu nhập ròng, ý kiến kiểm toán, công ty kiểm toán, lĩnh 10 vực hoạt động đến TKT đến BCTC của các CTNY trên sàn giao dịch chứng khoán Istanbul. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thu nhập ròng, ý kiến kiểm toán, công ty kiểm toán và lĩnh vực hoạt động có ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC.
Trong khi đó yếu tố quy mô công ty không có ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC. Tác giả Khalid Alkhatib và Qais Marji (2012), với nghiên cứu “Audit reports timeliness: Empirical evidence from Jordan” trên tạp chí Procedia - Social and Behavioral Sciences 62, pp.