CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Theo Pháp luật về Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính được ban hành vào ngày 24/05/1990, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ chủ yếu nhận tiền gửi từ KH để sử dụng cho việc cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Theo điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010, NHTM là một doanh nghiệp thực hiện toàn bộ các hoạt động NH, bao gồm việc nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán nhằm hướng tới mục tiêu lợi nhuận.
Theo Luật Ngân hàng nhà nước năm 1997 số 06/1997/QH10, hoạt động của NH là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH. Theo giáo trình Tiền tệ Ngân hàng của PGS.TS Tô Kim Ngọc và TS. Nguyễn Thanh Nhàn (2018), NHTM là một tổ chức tài chính hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, thông qua việc kinh doanh từ việc huy động vốn từ nền kinh tế, chủ yếu tới từ khoản vốn ngắn hạn. Đối với loại hình sở hữu, NHTM tồn tại ở nhiều dạng như: NHTM tư nhân, NHTM cổ phần, NHTM quốc doanh, NHTM liên doanh và chi nhánh NHTM nước ngoài.
Như vậy, có thể thấy NHTM là một tổ chức tài chính được thành lập theo quy định của pháp luật, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ. Chức năng chính của NHTM là thu nhận tiền gửi từ KH theo nhiều hình thức khác nhau và sử dụng nguồn vốn này để cung cấp các dịch vụ tài chính như cấp tín dụng và thanh toán cho các chủ thể kinh tế, với mục tiêu tạo ra lợi nhuận. Chức năng và sản phẩm của ngân hàng thương mại Hoạt động của NHTM được thể hiện rõ nhất qua ba chức năng: - Chức năng trung gian thanh toán: 11 Chức năng trung gian thanh toán là một phần quan trọng của hoạt động NH, đặc biệt là trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp và cá nhân. Nó cho phép chuyển tiền từ tài khoản của KH trả vào tài khoản của người thụ hưởng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc gửi tiền vào tài khoản tiền gửi của KH để thu tiền bán hàng hoặc các nguồn thu nhập khác theo yêu cầu của họ.
Chức năng này giúp tiết kiệm thời gian và tiền bạc, đồng thời tạo điều kiện cho việc luân chuyển vốn nhanh chóng trong nền kinh tế. Chức năng trung gian thanh toán của NHTM được thể hiện thông qua các dịch vụ thanh toán trực tuyến cùng với việc sử dụng của TTD và thẻ ghi nợ. Thông qua các công cụ này, KH được hỗ trợ trong việc thực hiện các giao dịch thanh toán một cách tiện lợi và nhanh chóng từ bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào. Hệ thống thanh toán trực tuyến cho phép KH thực hiện các giao dịch thanh toán từ xa một cách thuận tiện và nhanh chóng, giảm bớt sự phụ thuộc vào các điểm giao dịch truyền thống.
Bằng cách này, KH có thể tiết kiệm thời gian và công sức mà vẫn đảm bảo tính linh hoạt và tiện ích trong quá trình quản lý tài chính cá nhân và thực hiện các giao dịch hàng ngày. Các công cụ thanh toán này không chỉ là những phương tiện đơn thuần, mà còn là các công cụ linh hoạt và tiện lợi, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của KH trong một môi trường kinh doanh ngày càng phát triển và đa dạng. - Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội: Chức năng thủ quỹ cho xã hội của NHTM bao gồm việc nhận tiền gửi từ cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức khác, đảm bảo an toàn tài sản và đáp ứng nhu cầu rút tiền và chi trả theo yêu cầu của KH. Điều này giúp NHTM có nguồn vốn để thực hiện chức năng tín dụng, đồng thời là cơ sở cho việc thực hiện chức năng thanh toán.
Dịch vụ tiết kiệm và tiền gửi thể hiện vai trò quan trọng trong chức năng thủ quỹ của NHTM. Ngân hàng thu hút nguồn vốn bằng phương thức nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác. Từ đó, NH tạo ra nguồn vốn ổn định để thực hiện các hoạt động 12 tín dụng và đầu tư. Đồng thời, dịch vụ này cũng đảm bảo sự an toàn và tin cậy cho tiền gửi của KH, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển và ổn định của hệ thống tài chính.
- Chức năng trung gian tín dụng: Đây một chức năng rất quan trọng và đặc trưng, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và phát triển nền kinh tế như sau: + NHTM hoạt động như một "cầu nối" giữa những người có vốn và những người cần vốn trong xã hội. Nó không chỉ là người vay mà còn là người cho vay. Nhờ vào việc chênh lệch lãi suất giữa lãi suất gửi và lãi suất cho vay, NHTM có thể thu lợi nhuận và tạo ra lợi ích cho chính nó và các bên liên quan. + NHTM đảm bảo sự chuyển động liên tục của dòng tiền trong nền kinh tế xã hội, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách cung cấp vốn để duy trì quá trình tái sản xuất xã hội.
+ NHTM cải thiện hiệu suất sử dụng vốn bằng cách sử dụng tạm thời nguồn vốn nhàn rỗi vào việc cho vay với mục đích sinh lời. Với chức năng trung gian tín dụng, các NHTM không chỉ là nơi cung cấp dịch vụ lưu trữ tiền mặt mà còn là một nguồn tài chính quan trọng đối với cả doanh nghiệp và cá nhân. Đa dạng các sản phẩm tín dụng được NHTM cung cấp đáp ứng nhu cầu vốn của các đối tượng khác nhau, mang lại những lợi ích đáng kể. Ngân hàng cấp tín dụng thông qua các hình thức: Cho vay, bao thanh toán, bảo lãnh NH, chiết khấu và tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác, phát hành TTD.
Đối với sản phẩm vay vốn doanh nghiệp, NHTM chủ động cung cấp các khoản vay vốn cho các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ mở rộng hoạt động sản xuất, đầu tư vào dự án phát triển, hoặc đáp ứng các nhu cầu tài chính khác. Những khoản vay này không chỉ là nguồn tài trợ quan trọng để doanh nghiệp duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, mà còn là cơ hội để thúc đẩy sự sáng tạo và tăng cường cạnh tranh trên 13 thị trường. Với sản phẩm vay cá nhân, NHTM cung cấp các sản phẩm cho vay tiêu dùng và cho vay sản xuất kinh doanh, phục vụ cho các nhu cầu tài chính của cá nhân. Từ việc mua sắm nhà ở đến mua ô tô, hoặc thậm chí là chi trả các chi phí cá nhân khác, các khoản vay cá nhân giúp đáp ứng nhu cầu vốn cá nhân và tạo điều kiện cho các kế hoạch và ước mơ của mỗi người trở thành hiện thực.
Bằng cách cung cấp một loạt các sản phẩm và dịch vụ tín dụng đa dạng và linh hoạt, NHTM không chỉ đáp ứng nhu cầu về vốn mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh doanh và tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân và doanh nghiệp, chứng tỏ vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Tổng quan về thẻ tín dụng 1. Khái niệm và phân loại thẻ tín dụng Khái niệm thẻ tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về thẻ trong quy định về việc phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng, được ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước quy định: "Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành và cấp cho KH sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ.
Thẻ ngân hàng được hiểu như một phương tiện thanh toán được dùng để thực hiện các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, bên cạnh các phương tiện thanh toán khác như tiền mặt, séc, ủy nhiệm chi (lệnh chi), ủy nhiệm thu. Với những tính năng như gọn nhẹ, an toàn, thuận tiện, thẻ ngân hàng đã và đang được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới và cũng ở Việt Nam." Tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN quy định về TTD như sau: “TTD là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.” Thông thường, TTD được NH cấp cho chủ thẻ với một hạn mức nhất định dựa trên việc đánh giá và thẩm 14 định lịch sử quan hệ tín dụng của KH, mức thu nhập hàng tháng của chủ thẻ hoặc số tiền ký quỹ hoặc tài sản mà chủ thẻ đảm bảo tại NH. Theo văn bản hợp nhất 15/VBHN-NHNN 2021 thông tư về hoạt động thẻ ngân hàng thì: “TTD (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”. Với đặc điểm là chi tiêu trước và trả tiền sau, chủ thẻ có thể thực hiện các giao dịch hàng hóa, dịch vụ tại các điểm bán hàng hoặc trên các trang web thương mại điện tử thông qua hình thức thanh toán bằng TTD.
Một ngày nhất định hàng tháng, theo quy định của từng NH, NH sẽ gửi một bản sao kê chi tiêu chi tiết của tháng trước mà chủ TTD đã sử dụng và yêu cầu chủ thẻ thanh toán. Khi đó, chủ thẻ có thể chọn thanh toán toàn bộ số tiền trước hoặc trong thời hạn ghi trong thông báo. Nếu chủ thẻ thanh toán đúng thời hạn, sẽ không phải trả lãi và bất kỳ loại phí nào. Ngoài ra, chủ thẻ có thể chọn thanh toán một phần số tiền tối thiểu trên sao kê, phần còn lại sẽ được trả dần và sẽ phải trả lãi theo quy định của NH.
Tóm lại, TTD là một hình thức vay tiền của NH, cho phép KH mua sắm và chi tiêu một khoản tiền mà không cần phải có sẵn trong tài khoản của họ và tới kỳ hạn thanh toán chủ thẻ có nhiệm vụ phải trả tiền lại đầy đủ cho NH. Phân loại thẻ tín dụng TTD được phân loại để quản lý đối tượng KH tùy theo các tiêu chí khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại phổ biến về TTD: ● Phân loại thẻ theo hạng thẻ: TTD thường được phân loại để quản lý đối tượng KH (có thể theo thu nhập hoặc phí thẻ) như thẻ tiêu chuẩn (standard/classic), thẻ vàng (gold), thẻ bạch kim (platinum).