LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, cây cao su đang trở thành một cây trồng thế mạnh và thu hút được nhiều người trồng bởi giá trị kinh tế to lớn. Nông dân ở các tỉnh trồng nhiều cao su như Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Quảng Trị, Đăk Lăk, Luận văn luận án 2023 … cũng giàu lên nhờ cây cao su. Năm 2017, ngành cao su Việt Nam với 3 nhóm sản phẩm chính gồm: nguyên liệu cao su thiên nhiên, sản phẩm cao su và gỗ cao su, toàn ngành đã đóng góp khoảng 4.5 tỷ USD vào giá trị xuất khẩu của cả nước, đạt khoảng 2.5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu và giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, sản xuất kinh doanh cao su thiên nhiên hiện vẫn tồn tại nghịch lý là xuất khẩu nhiều với giá trị thấp, nhưng lại nhập khẩu để chế biến sâu. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017) cho thấy, hàng năm Việt Nam sản xuất ra cả triệu tấn mủ cao su nhưng lượng hàng dùng chế biến sản phẩm cao su công nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 20% tổng sản lượng. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến cao su phổ biến chỉ tập trung ở một số lĩnh vực như chế biến thành săm lốp, linh kiện kỹ thuật, găng tay, sợi thun. Hiện tại, các doanh nghiệp trong nước chưa sản xuất được loại cao su tổng hợp nào, mà toàn bộ phải nhập khẩu.
Còn đối với sản phẩm cao su kỹ thuật cao, đòi hỏi đầu tư công nghệ hiện đại nên ít doanh nghiệp đủ tiềm lực để sản xuất. Ngoài việc ngành công nghiệp chế biến cao su Việt Nam tăng trưởng chậm, điều đáng lo ngại hơn là phần lớn chỉ số tăng trưởng lại rơi vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có quy mô lớn. Điều này cho thấy việc thu hút doanh nghiệp đầu tư mới, đầu tư mở rộng SXKD sản phẩm cao su công nghiệp chuyên sâu còn hạn chế, các doanh nghiệp chế biến cao su Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa mạnh dạn đầu tư vốn phát triển doanh nghiệp. Quy mô vốn thấp sẽ hạn chế việc đổi mới công nghệ, tận dụng cơ hội kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt và hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh 2 tế thế giới.
Nhằm tìm ra những giải pháp khả thi, hiệu quả để tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vốn để mở rộng quy mô, phát triển SXKD, tăng lợi nhuận, góp phần khai thác tiềm năng, phát triển của ngành. cần phải nghiên cứu, đánh giá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam. Xuất phát từ những yêu cầu trên nên việc nghiên cứu: “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH Luận văn luận án 2023 ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRONG NGÀNH CAO SU Ở VIỆT NAM” là rất thực tế nhằm trước hết là giúp các doanh nghiệp phát triển SXKD và sau đó là hướng đến mục tiêu thu hút vốn đầu tư ngày càng nhanh hơn và nhiều hơn vào ngành cao su ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu Với lĩnh vực tài chính doanh nghiệp các nhân tố tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp thường được chú ý và quan tâm sâu sắc.
Do đó đây là chủ đề đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra phân tích: Modigliani và Miller (1958) đã kết luận rằng quyết định tài trợ và quyết định đầu tư thực của công ty được thực hiện độc lập với nhau. Hơn nữa, lý thuyết này nói rằng đầu tư của một công ty chỉ nên dựa trên những yếu tố sẽ làm tăng khả năng sinh lời, dòng tiền hay giá trị của một công ty và không có mối quan hệ nào giữa thị trường tài chính và quyết định đầu tư thực của công ty. Tuy nhiên, nhận định này sẽ chỉ có giá trị nếu các giả định về thị trường hoàn hảo là cơ sở để cho nhận định này được đáp ứng. Lý thuyết về tài chính công ty đã cho thấy sự không hoàn hảo của thị trường như hệ thống tài chính kém phát triển có thể hạn chế khả năng để tài trợ cho các khoản đầu tư và do đó cũng sẽ ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư của công ty.
Lý thuyết chỉ ra rằng sự phát triển của thị trường tài chính và các công cụ tài chính sẽ làm giảm chi phí giao dịch và chi phí thông tin và từ đó làm ảnh hưởng đến lãi suất tiết kiệm và tác động đến quyết định đầu tư của công ty, vấn đề này được nghiên cứu mở rộng với mô hình tân cổ điển (neoclassical model) của đầu tư với các tác giả đại diện như Jorgenson ( 1963), Hall và Jorgenson ( 1967). 3 Theo lý thuyết Tohin Jame (1969) và sau đó được mở rộng thành một mô hình được đề xuất bởi Hayashi (1982), nhu cầu đầu tư có thể dự đoán bằng tỷ lệ của giá trị thị trường của vốn cổ phần của một công ty với chi phí thay thế (replacement cost) với giả định thị trường là hoàn hảo (không có bất cân xứng thông tin, không có chi phí giao dịch, không có rủi ro và không có thuế) và giá trị thị trường cùng có thể giải thích cơ hội đầu tư trong tương lai của công ty. Tuy nhiên, Akerlof (1970) đã Luận văn luận án 2023 chỉ ra rằng lập luận này chỉ có thể đúng trong một thế giới của thị trường vốn hoàn hảo. Nó không thể giải thích quyết định đầu tư ở cấp vi mô nếu có thông tin bất đối xứng trên thị trường.
Cụ thể, thị trường không hoàn hảo tồn tại trong nước đang phát triển, các doanh nghiệp thì có nhiều hơn những thông tin về lợi nhuận và rủi ro của dự án đầu tư so với các nhà tài trợ/ cho vay. Bên cạnh đó, lý thuyết tài chính doanh nghiệp cũng cho thấy rằng sự không hoàn hảo của thị trường có thể làm hạn chế khả năng tài trợ đầu tư của các công ty và do đó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ. Hơn nữa MM còn chỉ ra thị trường đã thất bại như thế nào khi người mua ít thông tin hơn người bán đã dẫn đến một lựa chọn sai lầm, một rủi ro đạo đức hoặc cả hai và ngoài ra còn có những hệ quả khác của thông tin bất đối xứng. Nếu có lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức thì xác suất vỡ nợ do đầu tư sẽ tăng lên.
Ngoài ra, Fazzari và các đồng sự (1988) đã nghiên cứu ảnh hưởng của khó khăn tài chính vào sự nhạy cảm của đầu tư đến dòng tiền. Sau khi kiểm soát cơ hội đầu tư với biến Tobin q, họ sử dụng tỷ lệ chia cổ tức đề phân biệt các công ty đang đối mặt với khó khăn tài chính với những công ty còn lại. Họ nhận thấy rằng dòng tiền có thể ảnh hưởng đến đầu tư vì sự không hoàn hảo của thị trường vốn, thông tin bất đối xứng và các vấn đề về lựa chọn sai lầm (lemon problem). Ngoài ra, hiệu quả đầu tư vào dòng tiền được coi là một vấn đề chính sách của việc giảm phúc lợi, sự thất bại của thị trường vốn hoặc sử dụng vốn không hiệu quả,.
tương tự như những vấn đề đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đó. Hơn nữa, họ cũng quan sát thấy rằng nguồn vốn nội bộ thì rẻ hơn so với tài chính được tài trợ từ bên ngoài. Kết luận này cũng phù hợp với nghiên cứu của Myers và Majluf (1984) nhưng Kaplan và Zingales (1997) lại không đồng thuận, họ điều tra ra rằng thói quen sử dụng sự nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền giống như một hạn chế trong việc quản lý tài chính. Sau đó họ cho rằng quyết định đầu tư của công ty có bị tác động bởi những 4 khó khăn tài chính của công ty nhưng lại nhạy cảm hơn với những dòng tiền đang sẵn có.
Nghiên cứu gần đây của Cleary và cộng sự (2007) có ghi nhận rằng chi phí đầu tư thể hiện một hình chữ U trong mối liên hệ với sự sẵn có của nguồn vốn nội bộ. Trong bài nghiên cứu của Rajakumar (2005) với bối cảnh các công ty Ấn Độ, tác giả đã kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa tài trợ doanh nghiệp và hành vi đầu tư cho giai đoạn 1988-1989. Để thấy được mức ý nghĩa của việc tài trợ với Luận văn luận án 2023 hành vi đầu tư, các công ty được tách biệt theo chế độ tài chính của họ như căn cứ theo vốn chủ sở hữu và nợ vay. Tác giả nhận thấy ở mức độ tổng thể thì những công ty có vay nợ nhiều thì đầu tư nhiều hơn và họ cũng nhận thấy là vay nợ thì tốt hơn so với vốn cổ phần.
Carpenter và Guariglia (2008) cũng phân tích các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư với những phát hiện đem lại nhiều hỗ trợ cho các nghiên cứu sau. Cụ thể là họ đã ước tính đầu tư bằng phép hồi quy phân biệt khả năng thích ứng của công ty khi phải đối mặt với các hạn chế tài chính cho các doanh nghiệp của Anh trong giai đoạn 1983-2000. Họ quan sát thấy rằng dòng tiền không thể giải thích tính chất nhạy cảm của các quyết định đầu tư cho các công ty lớn, tuy nhiên sức mạnh giải thích của nó vẫn là như nhau cho các công ty nhỏ. Điều này cho rằng mức ý nghĩa của biến dòng tiền trong phương trình đầu tư có thể là do bất đối xứng thông tin trên thị trường vốn.
Ngoài ra, Gomes (2001) cho thấy sự hiện diện hay vắng mặt của những rào cản tài chính là không đủ để các tác động của dòng tiền là có ý nghĩa và cũng không cần thiết phải đo lường cho những ảnh hưởng đó của dòng tiền. Kết quả này đã ủng hộ mạnh mẽ cho những tranh cãi về sự nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền có thể là do có sai sót tồn tại khi đo lường q. Những nghiên cứu thực nghiệm gây tranh cãi có liên quan đến những gì có thể xảy ra mối quan hệ giữa cơ hội đầu tư, dòng tiền và quyết định đầu tư của công ty. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này sẽ không giải quyết những tranh luận này vì nó sẽ được giới hạn ở những kết luận đầu tiên trong nghiên cứu của Fazzari và các đồng sự (1988).