chương 1, luận văn khái quát tổng quan về nghiên cứu với một số nội dung chính là: lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Trong đó phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng được áp dụng kết hợp cho nghiên cứu của luận văn. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 2. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow Hệ thống thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) là một mô hình được sử dụng phổ biến để nghiên cứu về các động cơ cá nhân.
Nhu cầu cá nhân rất đa dạng và liên tục thay đổi theo từng hoàn cảnh thực tiễn. Do đó để đáp ứng được các nhu cầu cá nhân đó cũng vô cùng phức tạp. Để đáp ứng được điều này, Maslow đã chỉ được ra người quản lý phải sử dụng được các phương pháp để tìm ra và tìm cách để thoả mãn được các nhu cầu chính đáng của người lao động. Khi đó, người quản lý sẽ tạo ra được động lực làm việc cho người lao động của mình.
Maslow nhấn mạnh, trong mỗi cá nhân luôn tồn tại các nhóm nhu cầu: (1) Nhu cầu sinh lý. (2) Nhu cầu an toàn. (3) Nhu cầu xã hội. (4) Nhu cầu tôn trọng.
(5) Nhu cầu tự thể hiện. Thang bậc nhu cầu theo Maslow (1943) Nguồn: Abraham Maslow (1943) 6 Theo lý thuyết này của Maslow, các nhu cầu con người sẽ xuất hiện dần từ cấp bậc thấp đến cấp bậc cao hơn. Khi nhu cầu cấp thấp của mỗi cá nhân đã được thoả mãn thì các nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ xuất hiện và yêu cầu phải được thỏa mãn. Ban đầu là các nhu cầu cấp thấp nhất là sinh lý, tiếp đến là nhu cầu về an toàn, nhu cầu giao tiếp xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu cao nhất được thể hiện để khẳng định mình.
Maslow cho rằng làm thoả mãn các nhu cầu ở cấp thấp là dễ hơn so với nhu cầu ở cấp cao. Các nhu cầu ở cấp thấp là có giới hạn và dễ dàng được thoả mãn từ nhân tố bên ngoài. Maslow, trước tiên các nhu cầu thấp nhất yêu cầu được thoả mãn và là động cơ để thúc đẩy cá nhân phải hành động và là yếu tố động viên. Khi các nhu cầu cấp thấp được thoả mãn thì nó không phải là yếu tố động viên của cá nhân nữa, lúc này các nhu cầu ở các cấp độ cao hơn sẽ dần xuất hiện.
Như vậy, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi hành vi của con người. Thuyết cấp bậc nhu cầu của A. Maslow đã có một ẩn ý đặc biệt quan trọng với các nhà quản trị, đó là để động viên và khuyến thích người lao động làm việc thì người quản lý phải nắm bắt được mỗi cá nhân người lao động đang ở cấp độ nhu cầu nào. Từ đó nhà quản trị có thể xây dựng các phương án hợp lý nhất để thoả mãn các nhu cầu đó của người lao động để cùng nỗ lực để hướng tới các mục tiêu chung của tập thể.
Học thuyết về Hệ thống hai nhân tố của Frederic Herzberg Học thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) xây dựng dựa trên quan điểm động lực làm việc là kết quả tác động của tổ hợp các nhân tố ảnh hưởng. Trong đó, bao gồm các yếu tố tạo nên từ sự thoả mãn và không được thoả mãn. Bản thân mỗi nhân tố luôn bao gồm cả hai mặt và phụ thuộc vào việc nó được đáp ứng bằng cách dì và như thế nào nhằm sáng tỏ bản chất của các nhân tố đó. Học thuyết này đã và đang được các nhà quản trị áp dụng rộng rãi.
Học thuyết của Herzberg đã tạo ra một sự bất ngờ lớn vì nó đã đảo lộn các nhận thức thông thường. Các nhà quản lý thường cho rằng đối ngược với thỏa mãn là bất mãn 7 và ngược lại. Nhưng Herzberg lại cho rằng trái ngược với bất mãn không phải là thỏa mãn mà là không bất mãn và trái ngược với thỏa mãn không phải là bất mãn mà không thỏa mãn. Các nhân tố liên quan đến sự thỏa mãn đối với công việc được gọi là nhân tố động viên (Motivator) - nhân tố bên trong.
Các nhân tố liên quan đến bất mãn được gọi là các nhân tố duy trì (Hygiene Factors) - nhân tố bên ngoài. Đối với các nhân tố động viên, nếu được đáp ứng tốt sẽ tạo ra sự thoả mãn để động viên mỗi cá nhân người lao động làm việc sáng tạo hơn, tích cực hơn và chăm chỉ hơn. Ngược lại, nếu các nhân tố động viên không được đáp ứng tốt sẽ sinh ra hiện tượng không thoả mãn chứ có thể người lao động chưa bất mãn. Bên cạnh đó, các nhân tố duy trì nếu được đáp ứng không tốt sẽ sinh ra sự bất cho mãn người lao động, nhưng nếu nó được đáp ứng tốt thì xảy ra hiện tượng không bất mãn chứ có thể không có tình trạng thoả mãn.
Nhân tố động viên là tác nhân để thoả mãn, bao gồm: (1) Đạt được kết quả như mong muốn. (2) Sự công nhận của tổ chức, lãnh đạo, đồng nghiệp. (3) Trách nhiệm. (4) Sự tiến bộ, thăng tiến trong công việc.
(5) Sự tăng trưởng như ước muốn. Nhân tố duy trì là tác nhân của sự bất mãn, có thể là do: (1) Chế độ và chính sách của tổ chức. (2) Sự giám sát trong công việc không phù hợp. (3) Các điều kiện làm việc không đáp ứng mong muốn của người lao động.
(4) Lương thưởng và các khoản thù lao khác không phù hợp hoặc chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng. (5) Cuộc sống của cá nhân. (6) Quan hệ với đồng nghiệp “có vấn đề”. (7) Quan hệ giữa các cấp không như kỳ vọng.
Thuyết hai nhân tố Nguồn Frederic Herzberg (1959) F. Herzberg có những gợi ý vô cùng quan trọng cho các nhà quản lý, bao gồm các hàm ý như sau: Các nhân tố làm người lao động thỏa mãn không giống với các nhân tố gây ra sự bất mãn của người lao động. Do đó, các nhà quản lý không thể mong chờ người lao động thỏa mãn bằng cách xóa bỏ đi các nguyên nhân sinh ra bất mãn. Để động viên người lao động yêu cầu nhà quản lý phải xử lý thỏa đáng đồng thời cả nhóm nhân tố duy trì và nhân tố động viên.
Nhiệm vụ của đội ngũ quản trị là phải đồng thời loại bỏ sự bất mãn và sinh ra sự thỏa mãn cho người lao động (Nguyễn Hữu Lam, 1996). Học thuyết công bằng (J. Stacy Adam) Học thuyết công bằng J. Stacy Adam (1963), trích phát biểu rằng người lao động so sánh những gì họ bỏ vào một công việc (đầu vào) với những gì họ nhận được từ công việc đó (đầu ra) và sau đó đối chiếu tỷ suất đầu vào – đầu ra của họ với tỷ suất đầu vào - đầu ra của những người khác.
Nếu tỷ suất của họ là ngang bằng với tỷ suất của những người khác, thì người ta cho rằng đang tồn tại một tình trạng công bằng. Nếu như tỷ suất này là không ngang bằng, thì họ cho rằng đang tồn tại một tình trạng bất công. Khi tồn tại những điều kiện bất công, các nhân viên sẽ có những thái độ, hành vi không thoả mãn. 9 Theo học thuyết này của J.
Stacy Adam, nếu tổ chức tạo ra được sự công bằng sẽ góp phần gắn kết mối quan hệ của mỗi cá nhân người lao động với tổ chức, khuyến khích và làm gia tăng sự hài lòng với công việc của họ. Từ đó mỗi cá nhân sẽ làm việc có hiệu quả để đồng hành với tổ chức. Ngược lại, nếu mỗi cá nhân người lao động cảm nhận những gì họ đã cống hiến cho tổ chức lớn hơn những gì họ đã và đang nhận được, họ sẽ mất dần động lực và nhiệt huyết đối với công việc. Khi đó, mỗi cá nhân người lao động sẽ so sánh, đánh giá những đóng góp và cống hiến của họ với những chế độ đãi ngộ và phần thưởng nhận được từ tổ chức, kết quả sẽ có ba trường hợp xảy ra như sau: Thứ nhất: nếu người lao động nghĩ rằng họ được đối xử chưa tốt, phần thưởng là chưa xứng đáng với công lao họ đã bỏ ra cho tổ chức thì sẽ xuất hiện bất mãn và từ đó người lao động sẽ làm việc không hết khả năng của họ.
Trong trường hợp xấu nhất, người lao động có thể sẽ có những hành vi quấy phá hay “rũ áo ra đi” tìm công việc mới có đãi ngộ tốt hơn. Thứ hai: nếu người lao động tin rằng họ được đối xử tốt, phần thưởng và đãi ngộ của tổ chức tương xứng với công lao họ đã bỏ ra thì họ sẽ duy trì mức năng suất như cũ. Thứ ba: nếu người lao động nhận thức được phần thưởng và đãi ngộ của tổ chức là cao hơn so với công lao họ đã bỏ ra và cao hơn mức kỳ vọng mà họ đã mong đợi, họ sẽ làm việc hăng say và chăm chỉ hơn trước. Tuy nhiên, họ sẽ có chiều hướng ngày càng giảm dần giá trị của các phần thưởng, không còn coi trọng các phần thưởng và về lâu về dài đãi ngộ và phần thưởng của tổ chức sẽ không còn nhiều ý nghĩa khuyến khích như trước.
Để tạo được sự công bằng, bình đẳng trong tổ chức, các nhà quản trị nên xem xét, đánh giá lại mức độ cân bằng giữa đóng góp của mỗi cá nhân người lao động với tổ chức và đãi ngộ mà họ sẽ được nhận để xây dựng phương án cân bằng chúng. Chỉ khi nào mỗi cá nhân người lao động nhận ra có sự công bằng giữa các cá nhân trong tổ chức thì họ mới cố gắng nỗ lực làm việc hướng đến các mục tiêu chung. 10 Theo học thuyết này của J. Stacy Adam, nguyên tắc “quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng” phải luôn luôn được tôn trọng trong tổ chức.
Khi quyền lợi riêng của mỗi cá nhân được tổ chức tôn trọng sẽ có ý nghĩa động viên và khuyến khích người lao động. Quyền lợi của mỗi cá nhân phải được phân bổ hài hòa trên cơ sở năng lực và trình độ của bản thân người lao động, kết hợp với đóng góp, sự nỗ lực, chăm chỉ, năng động với năng suất cũng như tính hiệu quả công việc của mỗi cá nhân người lao động mang lại cho tổ chức. Chế độ mà mỗi cá nhân người lao động nhận được từ tổ chức có thể là lương thưởng, phúc lợi, được học tập nâng cao trình độ, … Thuyết về sự công bằng của J.