CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện trên thế giới và Việt Nam. Từ đó, dưới góc độ cá nhân, tác giả nêu ra những nhận xét và xác định hướng nghiên cứu của đề tài. Các nghiên cứu trên thế giới có liên quan Cho đến nay đã có nhiều học giả nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhóm đối tượng sử dụng.
Hầu hết, các nghiên cứu chủ yếu được thực hiện ở một số quốc gia như Cộng hòa Séc, Hungary, Rumani và Thổ Nhĩ Kỳ, Thuỵ Điển, Mexico… Nội dung của nghiên cứu được tóm lược cụ thể như sau: Năm 1977, James J. Benjamin and Keith G. Stanga đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Differences in Disclosure Needs of Major Users of Financial Statements”. Mục tiêu của nghiên cứu là so sánh nhu cầu thông tin kế toán của hai nhóm người dùng bên ngoài là các cán bộ tín dụng ngân hàng thương mại và các nhà phân tích tài chính chuyên nghiệp để đi đến xem xét việc tiết lộ thông tin tài chính cho từng đối tượng.
Dựa trên một bảng câu hỏi được xây dựng bao gồm 79 loại thông tin mà các chủ ngân hàng và nhà phân tích tài chính có thể cần cho các mục đích ra quyết định. Hầu hết 79 mục thông tin được chọn cho bảng câu hỏi đều được thu thập từ việc xem xét nhiều nghiên cứu, tài liệu về kế toán và tài chính. Những người trả lời được yêu cầu đánh giá tầm quan trọng của từng mục thông tin trên thang điểm 5. Tổng cộng có 600 cán bộ tín dụng ngân hàng thương mại và 600 nhà phân tích tài chính được yêu cầu tham gia vào nghiên cứu.
Trong số 1200 bảng câu hỏi được gửi qua thư, các phản hồi có thể sử dụng được nhận từ 208 ngân hàng và 207 nhà phân tích tài chính với tỷ lệ phản hồi tổng thể là 34,6%. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tồn tại những khác biệt về nhu cầu thông tin giữa hai nhóm trên các lớp thông tin chính sau: (1) một số báo cáo tài chính cơ bản và bổ sung (báo cáo thu nhập so sánh, bảng cân đối kế toán, BCTC so sánh và BCTC đã 123doc 6 được điều chỉnh cho những thay đổi về sức mua của đồng đô la); (2) doanh thu bán hàng và thu nhập ròng của các công ty con; (3) các khoản chi phí (quảng cáo, bảo trì và sửa chữa, khấu hao, các loại thuế); (4) thông tin cụ thể về khối lượng sản xuất sản phẩm, chính sách cổ tức, loại cổ phần phổ thông, nợ dài hạn, đầu tư nước ngoài, chi phí vốn theo kế hoạch và kế hoạch tài chính; và (5) tổng tài sản, vốn chủ sở hữu của cổ đông và số lượng cổ đông phổ thông. Do đó, kết luận chung được rút ra trong nghiên cứu này là cán bộ tín dụng ngân hàng khi đưa ra quyết định cho vay dài hạn dường như không xem xét các mục thông tin theo cách tương tự như các nhà phân tích tài chính khi thực hiện quyết định đầu tư chứng khoán. Như vậy, kết quả này đã gây ra một số nghi ngờ về việc thực hiện công việc kế toán theo những hướng khác nhau để cung cấp thông tin theo nhu cầu của các nhóm người dùng khác nhau.
Từ kết quả khảo sát kết hợp với phương pháp phân tích thực nghiệm, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhà cung cấp thông tin đã cố gắng phát triển các bộ thông tin khác nhau cho từng nhóm người dùng khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu không cố gắng chứng minh rằng việc phát triển các bộ thông tin khác nhau là tốt hơn hay không. Vấn đề này nằm ngoài phạm vi của cuộc điều tra và có thể là một hướng hiệu quả cho những nghiên cứu tiếp theo. Năm 1979, Michael Firth đã thực hiện nghiên cứu với tiêu đề “The Impact of Size, Stock Market Listing, and Auditors on Voluntary Disclosure in Corporate Annual Reports”.
Mục đích của nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về mối quan hệ giữa mức độ tiết lộ thông tin báo cáo tài chính thường niên của công ty với ba đặc tính là quy mô công ty, việc tham gia Sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ và sự tác động của công ty kiểm toán. Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1- thiết kế danh mục thông tin, Giai đoạn 2 - đo lường mức độ tiết lộ thông tin. Trong giai đoạn 1, bước đầu tiên là dựa vào kết quả các nghiên cứu trước đây: Anderson (1962), Backer (1970), Bradish (1965), Buzby (1974), Cerf (1961), Choi (1973)…để xây dựng một danh sách các mục thông tin xuất hiện hoặc có thể xuất hiện trong các báo cáo thường niên của công ty. Mặc dù danh sách này không đầy đủ nhưng 123doc 7 nó vẫn đảm bảo những mục được nhắc đến nhiều nhất trong báo cáo kế toán và thực sự hữu ích cho các nhà đầu tư, ngân hàng.
Tiếp theo, nghiên cứu thực hiện xem xét một số báo cáo thường niên của các công ty gần đây và thực hiện những cuộc thảo luận với người dùng để hiệu chỉnh danh mục. Cuối cùng, danh mục thông tin chính thức được phát hành có 48 mục thông tin. Tuy nhiên, mức độ quan trọng của 48 mục thông tin này đối với từng đối tượng sử dụng là không giống nhau: một số thông tin quan trọng hơn đối với người dùng này so với các mục khác…Do đó, nghiên cứu tiếp tục thực hiện xem xét “trọng số” gắn liền với các mục. Điều này được thực hiện bằng cách gửi danh sách các mục cho người dùng và yêu cầu họ đánh giá tầm quan trọng của mỗi mục bằng thang điểm năm.
Chỉ định điểm số 5 có nghĩa là mục rất quan trọng, điểm 4 có nghĩa là mục quan trọng, điểm 3 liên quan đến các mục quan trọng vừa phải, điểm số 2 liên quan đến hơi quan trọng và điểm số 1 có ý nghĩa không quan trọng. Danh sách này đã được gửi đến tổng số 120 nhà phân tích tài chính làm việc cho các nhà môi giới chứng khoán và các tổ chức đầu tư. Từ đó, danh sách 48 mục hỏi và trọng số cho từng mục hỏi được thiết lập và hoàn chỉnh. Trong giai đoạn 2, nghiên cứu thực hiện đo lường mức tiết lộ theo thiết kế nghiên cứu đã xây dựng.
Nếu một mục được tiết lộ thì công ty đã nhận được điểm số trọng số; nếu mục nào không được tiết lộ thì công ty đã nhận được điểm bằng không. Sau đó, điểm số cho từng mục riêng lẻ cho mỗi công ty được tổng cộng, con số này được gọi là chỉ số tiết lộ thông tin của công ty đó. Kết quả nghiên cứu của Michael Firth (1979) được mô tả ở hình 1. 123doc 8 Việc niêm yết trên thị trường chứng khoán Mức độ tiết lộ Quy mô công ty thông tin tài chính Công ty kiểm toán Hình 1.1 - Kết quả nghiên cứu của Michael Firth (1979) (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) Dựa vào kết quả nêu trên, có thể thấy rằng: (1) Các công ty có danh sách thị trường chứng khoán đã thực hiện công việc kế toán nghiêm ngặt hơn và tiết lộ thông tin nhiều hơn những công ty không có danh sách; (2) Quy mô công ty càng lớn thì điều kiện để chuẩn bị BCTC càng tốt nên mức tiết lộ thông tin cao hơn; (3) Các kiểm toán viên dường như có rất ít ảnh hưởng đến việc thực hiện công việc kế toán để bảo đảm mức độ tiết lộ thông tin của các công ty trong các báo cáo hàng năm của họ kể cả nhóm kiểm toán viên thuộc 'Big 8' của Anh (Arthur Young McClelland Moores, Coopers và Lybrand, Deloitte Haskins and Sells, Peat Mar- wick Mitchell) , Waterhouse, Thomson McLintock, Touche Ross, và Whinney Murrayj và “những nhóm khác”.
Hasseldine đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Corporate Financial Reporting in New Zealand: An Analysis of User Preferences, Corporate Characteristics and Disclosure Practices for Discretionary Information”. Nghiên cứu này nhằm đánh giá việc cung cấp thông tin trong mối liên hệ với khả năng sử dụng và phân tích thông tin của các đối tượng bên ngoài đơn vị. Nhóm tác giả đã thực hiện gửi bảng câu hỏi khảo sát đến các đối tượng có trình độ chuyên môn: kế toán, nhà phân tích tài chính, nhân viên sở giao dịch chứng khoán. Phát hiện chung của nghiên cứu cho thấy những nhóm người dùng khác nhau quan tâm 123doc 9 đến những thông tin tài chính khác nhau và thực hiện đánh giá, phân tích tình hình đơn vị khác nhau.
Chính bởi điều này, các đơn vị khi việc thực hiện vận dụng hướng dẫn thực hành kế toán của tổ chức nghề nghiệp và các quy định pháp luật về yêu cầu tối thiểu trong quá trình công bố thông tin bị tác động đáng kể. Như vậy, đây có thể là kết quả của việc chịu ảnh hưởng của áp lực ngầm có nguồn gốc bên trong hoặc bên ngoài tổ chức. Chow and Adrian Wong-Boren đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Voluntary Financial Disclosure by Mexican Corporations”. Nghiên cứu này báo cáo về thực tiễn tiết lộ thông tin tài chính của các tập đoàn Mexico dựa trên mẫu khảo sát của 52 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Vận dụng lý thuyết người đại diện (Agency Theory), nghiên cứu đã đưa ra một số biến độc lập để giải thích sự thay đổi trong công tác kế toán và tiết lộ thông tin tài chính: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ tài sản hiện có. Kết quả nghiên cứu của Chee W. Chow and Adrian Wong-Boren (1987) được mô tả ở hình 1. Quy mô công ty Công tác kế toán Đòn bẩy tài chính và mức độ công bố thông tin tài chính Tỷ lệ tài sản hiện có Hình 1.2 - Kết quả nghiên cứu của Chee W.
Chow and Adrian Wong-Boren (1987) (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) Kết quả nghiên cứu về vấn đề công bố thông tin tài chính của các công ty Mexico mang lại những hiểu biết về các yếu tố đằng sau những lựa chọn tiết lộ thông tin tài chính tự nguyện và nâng cao hiểu biết về tổ chức công tác kế toán của các quốc gia. Có 123doc 10 thể thấy rằng, công tác kế toán và mức độ tiết lộ thông tin tài chính có liên quan đáng kể theo xu hướng cùng chiều đến quy mô công ty nhưng không liên quan đến đòn bẩy tài chính và tài sản hiện có. Cooke đã thực hiện nghiên cứu với tiêu đề “Disclosure in the Corporate Annual Reports of Swedish Companies”.