Chương 1. Cơ sở lí luận; Chương 2. Một số khó khăn học sinh thường gặp khi giải các dạng toán về quan hệ song song trong hình học không gian lớp 11. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Một số nghiên cứu nước ngoài Một vài nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài như: Bài báo khoa học: “Difficulties in teaching and learning parallel lines in 3D geometry" của tác giả Marlina (2015) đã phân tích bài làm và phỏng vấn học sinh lớp 11 tại Indonesia và kết quả của bài nghiên cứu rút ra được học sinh gặp khó khăn trong việc hình dung các đối tượng hình học không gian, việc xác định mối quan hệ giữa các đường thẳng và mặt phẳng, áp dụng sai các định lý và tính chất về quan hệ song song. Luận văn thạc sĩ: "An investigation of student difficulties in learning parallel lines in high school geometry" của tác giả Jones (2016) đã làm thử nghiệm trên lớp học các nhóm học sinh trung học tại Hoa Kỳ và kết quả của bài nghiên cứu rút ra được học sinh sử dụng các chiến lược giải quyết vấn đề không hiệu quả, gặp khó khăn trong việc giải thích lập luận của họ và ít có khả năng tự học các khái niệm mới. Bài báo khoa học: "Analysis of textbooks and teaching materials on parallel lines in 3D geometry" của tác giả Hwang (2017) đã phân tích sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy của học sinh lớp 11 tại Hàn Quốc và kết quả là sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy tập trung quá nhiều vào lý thuyết và chưa chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, thiếu các bài tập thực hành liên quan đến ứng dụng thực tế của quan hệ song song. Một số nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về những khó khăn học sinh thường gặp khi giải các dạng toán về quan hệ song song trong hình học không gian lớp 11 là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực giáo dục toán học ở Việt Nam.
Cùng với sự phát triển của giáo dục toán học và xu hướng giảng dạy theo hướng phát triển năng lực của học sinh, việc nghiên cứu những khó khăn học sinh thường gặp phải và cải thiện phương pháp giảng dạy về toán hình học không gian đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Hiện nay, ở nước ta có nhiều tác giả quan tâm đến nghiên cứu một số khó khăn học sinh gặp phải khi giải các bài toán về quan hệ song song như: Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Trần Thị Thu Hà, Lê Thị Thu Trang,…Các 3 nghiên cứu này đã tạo nên bức tranh nhiều màu sắc về hình học không gian nói chung và quan hệ song song nói riêng. Một vài nghiên cứu liên quan đến đề tài như: Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2018) nghiên cứu về “Một số sai lầm học sinh thường gặp khi học hình học không gian về quan hệ song song” đã nêu được một số sai lầm học sinh lớp 11 thường mắc phải như lúng túng trong việc xác định các yếu tố liên quan đến quan hệ song song, áp dụng sai các định lý, tính chất về quan hệ song song, rối rắm trong việc hình dung các đối tượng hình học trong không gian qua phương pháp nghiên cứu là khảo sát và phỏng vấn. Cô đã đưa ra được các nguyên nhân dẫn đến sai lầm như kiến thức nền tảng về hình học phẳng còn yếu, khả năng tư duy hình học không gian chưa phát triển, phương pháp giảng dạy chưa phù hợp.
Đồng thời cô cũng đề xuất các giải pháp như củng cố kiến thức nền tảng về hình học phẳng, rèn luyện khả năng tư duy hình học không gian và áp dụng phương pháp giảng dạy phù hợp,… Nghiên cứu của cô Trần Thị Thu Hà (2019) cũng nghiên cứu các sai lầm học sinh thường mắc phải, cô đã đưa ra nguyên nhân và một số đề xuất giải pháp,… Nội dung nghiên cứu trước đều chỉ ra những sai lầm, nguyên nhân, một số đề xuất giải pháp khắc phục trong việc giải toán về hình học không gian của các em. Ngoài ra, những nghiên cứu trước đây đều được kiểm chứng tính khả thi thông qua các thực nghiệm trên nhiều đối tượng. Chính những nghiên cứu đó sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu sau này để có thể tiếp tục khai thác được nhiều hơn nữa về các khó khăn học sinh gặp phải để từ đó tìm cách khắc phục bằng các phương pháp giải cụ thể hơn qua đề tài “Một số khó khăn học sinh thường gặp khi giải các dạng toán về quan hệ song song trong hình học không gian lớp 11” nói riêng và góp phần hoàn thiện, đảm bảo chất lượng giáo dục toán học Việt Nam nói chung. Đường thẳng và mặt phẳng trong không gian 1.
Mặt phẳng Mặt bảng, màn hình máy tính hay mặt nước lúc tĩnh lặng là một số hình ảnh về một phần của mặt phẳng. Mặt phẳng không có bề đáy và không có giới hạn. 4 Để biểu diễn mặt phẳng, người ta thường biểu diễn một mặt phẳng bằng một hình bình hành và dùng các chữ cái in hoa hoặc chữ cái Hy lạp đặt trong dấu ngoặc đơn ( ) để đặt cho tên mặt phẳng ấy. Ví dụ: mặt phẳng (𝑃) (hình dưới), mặt phẳng (𝑄), mặt phẳng (𝛼), mặt phẳng (𝛽),.
Ta cũng có thể thử dụng 1 góc và viết tên của mặt phẳng ở bên trong góc đó. Điểm thuộc mặt phẳng Với mỗi điểm 𝐴 và mặt phẳng (𝑃), chỉ xảy ra một trong hai khả năng sau: - Điểm 𝐴 thuộc mặt phẳng (𝑃), ta kí hiệu 𝐴 ∈ (𝑃). - Điểm 𝐴 không thuộc mặt phẳng (𝑃) hay 𝐴 nằm ngoài (𝑃), ta kí hiệu 𝐴 ∉ (𝑃). Hình cho ta hình biểu diễn của điểm 𝐴 thuộc (𝑃), còn điểm 𝐵 không thuộc (𝑃) 5 1.
Hình biểu diễn của một hình trong không gian Để nghiên cứu hình học không gian, ta thường vẽ các hình đó lên bảng hoặc lên giấy. Hình vẽ đó được gọi là hình biểu diễn của một hình không gian. Hình biểu diễn của một hình không gian cần tuân thủ những quy tắc sau: - Hình biểu diễn của đường thẳng là đường thẳng, của đoạn thẳng là đoạn thẳng. - Hình biểu diễn của hai đường thẳng song song là hai đường thẳng song song, của hai đường thẳng cắt nhau là hai đường thẳng cắt nhau.
- Hình biểu diễn giữ nguyên quan hệ liên thuộc giữa điểm và đường thẳng. - Dùng nét vẽ liền để biểu diễn cho đường nhìn thấy và nét đứt đoạn để biểu diễn cho đường bị che khuất. Hình biểu diễn của hình lập phương 1. Các tính chất thừa nhận Do thực tiễn, kinh nghiệm và quan sát, người ta thừa nhận một số tính chất của hình học không gian.
Tính chất 1: Có một và chỉ một đường thẳng đi qua hai điểm phân biệt cho trước. Tính chất 2: Có một và chỉ một mặt phẳng đi qua ba điểm không thẳng hàng cho trước. Như vậy một mặt phẳng hoàn toàn xác định nếu biết nó đi qua ba điểm không thẳng hàng. Ta kí hiệu mặt phẳng qua ba điểm không thẳng hàng 𝐴, 𝐵, 𝐶 là mặt phẳng (𝐴𝐵𝐶) hoặc (𝐴𝐵𝐶).
6 Tính chất 3: Nếu một đường thẳng đi qua hai điểm phân biệt của một mặt phẳng thì mọi điểm của đường thẳng đều nằm trong mặt phẳng đó. Nếu mọi điểm của đường thẳng d đều thuộc mặt phẳng (𝛼) thì ta nói đường thẳng d nằm trong (𝛼) hay (𝛼) chứa a và kí hiệu là 𝑑 ⊂ (𝛼) hay (𝛼) ⊃ 𝑑. Tính chất 4: Tồn tại bốn điểm không cùng nằm trên một mặt phẳng. Nếu có nhiều điểm cùng thuộc mặt phẳng thì ta nói những điểm đó đồng phẳng, còn nếu không có mặt phẳng nào chứa các điểm đó thì ta nói rằng chúng không đồng phẳng.
Tính chất 5: Nếu hai mặt phẳng phân biệt có điểm chung thì các điểm chung của hai mặt phẳng là một đường thẳng đi qua điểm chung đó. Từ đó suy ra: Nếu hai mặt phẳng phân biệt có một điểm chung thì chúng sẽ có một đường thẳng chung đi qua điểm chung ấy. Chú ý: Đường thẳng chung d (nếu có) của hai mặt phẳng phân biệt (𝑃) có (𝑄) được gọi là giao tuyến của mặt phẳng đó và kí hiệu là 𝑑 = (𝑃) ∩ (𝑄). Tính chất 6: Trên mỗi mặt phẳng, tất cả kết quả đã biết trong hình học phẳng đều đúng.
Hai đường thẳng song song trong không gian 1. Vị trí tương đối của hai đường thẳng phân biệt Cho hai đường thẳng a và b phân biệt trong không gian. Khi đó chỉ xảy ra một trong các trường hợp sau: Trường hợp 1: Nếu a và b cùng nằm trong một mặt phẳng thì ta nói 𝑎 và 𝑏 đồng phẳng. Khi đó, 𝑎 và 𝑏 có thể cắt nhau, song song với nhau hoặc trùng nhau.
7 +) 𝑎 ∩ 𝑏 = {𝑀} +) 𝑎 cắt 𝑏 tại 𝑀 +) 𝑎//𝑏 +) 𝑎 song song với 𝑏 +) 𝑎 = 𝑏 +) 𝑎 trùng với 𝑏 Trường hợp 2: Nếu 𝑎 và 𝑏 không cùng nằm trong bất kì mặt phẳng nào thì ta nói 𝑎 và 𝑏 chéo nhau. Khi đó, ta cũng nói 𝑎 chéo với 𝑏, hoặc 𝑏 chéo với 𝑎. + 𝑎 và 𝑏 chéo nhau Khi hai đường thẳng 𝑎 và 𝑏 (phân biệt) đồng phẳng, ta đã biết có hai khả năng xảy ra: 8 - 𝑎 và 𝑏 có một điểm chung duy nhất 𝐼. Ta nói 𝑎 và 𝑏 cắt nhau tại 𝐼 và kí hiệu là 𝑎 ∩ 𝑏 = {𝐼}.
Ta còn có thể viết 𝑎 ∩ 𝑏 = 𝐼. - 𝑎 và 𝑏 không có điểm chung. Ta nói 𝑎 và 𝑏 song song với nhau và kí hiệu 𝑎//𝑏. Tính chất Tính chất 1: Trong không gian, qua một điểm không nằm trên đường thẳng cho trước, có một và chỉ một đường thẳng song song với đường thẳng đã cho.
Tính chất 2: Nếu ba mặt phẳng đôi một cắt nhau theo ba giao tuyến phân biệt thì ba giao tuyến ấy hoặc đồng quy, hoặc đôi một song song với nhau. Tính chất 3: Trong không gian, hai đường thẳng phân biệt cùng song song với đường thẳng thứ ba thì song song với nhau. Khi hai đường thẳng 𝑎 và 𝑏 cùng song song với đường thẳng 𝑐, ta kí hiệu 𝑎 // 𝑏 // 𝑐 và gọi là ba đường thẳng song song. Đường thẳng và mặt phẳng song song 1.
Đường thẳng và mặt phẳng song song Định nghĩa: Cho đường thẳng 𝑑 và mặt phẳng (𝛼). Ngoài ra: - Nếu 𝑑 và (𝛼) có một điểm chung duy nhất 𝑀 thì ta nói 𝑑 và (𝛼) cắt nhau tại điểm 𝑀 và kí hiệu 𝑑 ∩ (𝛼) = {𝑀} hay 𝑑 ∩ (𝛼) = 𝑀. Điều kiện và tính chất cùa đường thẳng song song với mặt phẳng Định lí: (Dấu hiệu nhận biết một đường thẳng song song với một mặt phẳng).