mở đầu đến kết thúc. Khi đọc văn bản cần hiểu được các diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt từ câu trước tới câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác, đặc biệt phát hiện ra mạch ngầm – mạch hàm ẩn, từ đó mới phát hiện ra chất văn. Bởi thế, cần đọc kĩ mới phát hiện ra những đặc điểm khác thường, thú vị. Đọc để hiểu hình tượng nghệ thuật, hình tượng trong văn bản văn học hàm chứa nhiều ý nghĩa.
Đọc để hiểu hình tượng nghệ thuật của văn bản văn học đòi hỏi người đọc phải biết tưởng tượng, biết “cụ thể hóa” các tình cảnh để hiểu những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát. Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật còn đòi hỏi phát hiện ra những mâu thuẫn tiềm ẩn trong đó và hiều được sự logic bên trong của chúng. Đọc để hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học, người đọc phải phát hiện được tư tưởng, tình cảm của nhà văn ẩn chứa trong văn bản. Tuy nhiên, những tư tưởng, tình cảm của nhà văn trong văn bản Văn học thường không trực tiếp nói ra bằng lời.
Chúng thường được thể hiện ở giữa lời, ngoài lời, vì thế người ta đọc – hiểu tư tưởng tác phẩm bằng cách kết hợp ngôn từ và phương thức biểu hiện hình tượng. Đọc để hiểu và thưởng thức tác phẩm, thưởng thức văn học là trạng thái tinh thần vừa bừng sáng với sự phát hiện chân lí đời sống trong tác phẩm, vừa rung động với sự biểu hiện tài nghệ của nhà văn, vừa hưởng thụ ấn tượng sâu đậm đối với các chi tiết đặc sắc của tác phẩm. Đó là đỉnh cao của đọc – 12 hiểu văn bản Văn học. Khi đó người đọc mới đạt đến tầm cao của hưởng thụ nghệ thuật.
Năng lực thẩm mỹ trong sự vận động tư duy nghệ thuật của văn học 1. Nhận thức về năng lực thẩm mỹ Khái niệm năng lực Hiện nay, khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: - Theo từ điển Tiếng Việt, “năng lực” được hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” khi đề cập tới năng lực của đối tượng nào đó hoặc “là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” [639]. - Theo Tâm lí học: Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt. - Theo Bernd Meier và Nguyễn Cường, năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.
Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, “năng lực là thuộc tính các nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Khái niệm thẩm mỹ Thẩm mỹ theo tiếng Hán: “thẩm” là xem xét, “mỹ” là đẹp. Do đó, Thẩm mỹ là hiểu biết và thưởng thức cái đẹp.
13 Cái đẹp giữ vị trí trung tâm trong đời sống thẩm mỹ, vì vậy nó là phạm trù của mỹ học. Phạm trù cái đẹp được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của tình cảm và ý thức con người. Mỹ học Mác – Lênin tiếp thu trên tinh thần phê phán các tư tưởng mỹ học trong lịch sử. Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã khẳng định nguồn gốc, bản chất của quan hệ thẩm mỹ: Quan hệ thẩm mỹ là là kết quả của quá trình hoạt động sản xuất vật chất và đấu tranh xã hội, nó chính là quá trình phát hiện, cảm thụ các thuộc tính thẩm mỹ của thế giới và sáng tạo ra những giá trị thẩm mỹ trong đời sống văn hóa nghệ thuật của con người.
Năng lực thẩm mỹ Năng lực thẩm mỹ là tổng thể các thuộc tính tâm lý, sinh lý cùng những phẩm chất đặc biệt về thể chất và tinh thần mà con người có được trong suốt quá trình hình thành và phát triển nhân cách, giúp con người tự khẳng định mình với tư cách là chủ thể thẩm mỹ có khả năng cảm thụ, đánh giá, sáng tạo các giá trị thẩm mỹ trong đời sống thực tại. Năng lực thẩm mỹ trước hết biểu hiện ở trình độ phát triển của ý thức thẩm mỹ. Đồng thời, năng lực thẩm mỹ về cơ bản là một năng lực thực tiễn chỉ có ở con người đã phát triển. Theo Mác, nhân loại đã phải tiến một bước dài để thực hiện sự cải biến mình từ tư cách chủ thể người thành chủ thể thẩm mỹ.
Chỉ khi có sự xuất hiện “khả năng về sự hưởng thụ có tính chất người” và sự khẳng định mình như những “lực lượng bản chất người” thì khi đó, con người mới xuất hiện và tự biểu hiện mình vớ tư cách chủ thể thẩm mỹ. Nhờ năng lực thẩm mỹ phát triển, con người mới có khả năng thực hiện các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần đạt tới tính sáng tạo cao nhất, để con người có thể “đối diện một cách tự do với sản phẩm của mình” với tư cách chủ thể sáng tạo. Sự hình thành năng lực thẩm mỹ là yếu tố quyết định cho bước chuyển từ từ chủ thể người tới chủ thể thẩm mỹ mà trước hết cần nói đến sự hoàn thiện từ chủ thể người tới chủ thể thẩm mỹ, trong đó, sự hoàn thiện của tai và mắt có ý nghĩa bản chất nhất, bởi chúng là những giác quan có tính người cao 14 nhất và là cửa ngõ của sự cảm thụ cái đẹp. Không chỉ trong tư duy mà còn bằng tất cả các giác quan, con người đã tự khẳng định sự tồn tại của mình trong thế giới khách quan.
Trên cơ sở của một chủ thể người, sự nhạy cảm của các giác quan thẩm mỹ đã làm chỗ dựa cho sự phát triển của tư duy hình tượng, khả năng liên tưởng, so sánh và ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm. Đó là những thuộc tính chủ đạo của năng lực thẩm mỹ, thuộc tính quyết định nhất để có một chủ thể thẩm mỹ. Mác viết rằng : “Chỉ có thông qua sự phong phú đã được phát triển về mặt vật chất của bản thân con người thì sự phong phú của tính cảm giác chủ quan của con người mới phát triển một phần, thậm chí lần đầu tiên mới được sản sinh ra” [56]. Năng lực thẩm mỹ về cơ bản là một năng lực thực tiễn.
So với các năng lực khác của con người thì sự hình thành, phát triển của năng lực thẩm mỹ đòi hỏi một quá trình giáo dục, rèn luyện công phu, nghiêm ngặt hơn nhiều. Trình độ phát triển năng lực thẩm mỹ ở mỗi người phụ thuộc vào hai yếu tố chính: năng khiếu bẩm sinh và quá trình được giáo dục, rèn luyện trong thực tiễn. Năng lực thẩm mỹ là năng lực được hình thành ở con người đã phát triển, tuy có yếu tố bẩm sinh nhưng điều kiện quyết định nhất cho sự hình thành và phát triển của nó là năng lực thực tiễn. Trong tác phẩm Văn hóa thẩm mỹ và nhân cách tác giả Lương Quỳnh Khuê định nghĩa: Năng lực thẩm mỹ là một tập hợp các thuộc tính tâm, sinh lý cùng với những phẩm chất đặc biệt về thể chất và tinh thần giúp cho cá nhân có khả năng cảm thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo các giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống [14].
Khoa học ngày nay đã chứng minh rằng khả năng thẩm mỹ ở dạng năng khiếu ban đầu như vậy nếu không xã hội hóa liên tục thì không đủ sức cải tạo các quan hệ thực tiễn. Những khả năng ấy chủ yếu gắn liền với các hoạt động sống ở những thời kì còn rất nhỏ tuổi và chưa tham gia nhiều vào các hoạt động thẩm mỹ. Về cơ bản năng lực thẩm mỹ không phải là năng lực bẩm sinh mà nó được xây trên và biểu hiện qua thực tiễn, có nghĩa là thực tiễn chi phối mọi cấp độ của năng lực thẩm mỹ. Cấp độ mạnh yếu của xúc cảm thẩm mỹ, 15 cấp độ nông sâu của tình cảm thẩm mỹ, cấp độ đúng sai của thị hiếu thẩm mỹ, sức mạnh của lí tưởng thâm mỹ được năng lực thực tiễn chi phối.
Hoạt động thẩm mỹ với tư cách là hoạt động nhằm thông qua các giá trị thẩm mỹ mà cải tạo đời sống và cải tạo bản thân mình có ý nghĩa to lớn. Trong quá trình đó con người đã trở thành nghệ sĩ và cuộc sống đã được con người thẩm mỹ hóa. Đó là những con người đã được rèn luyện về mặt thẩm mỹ và đã hình thành những năng lực thẩm mỹ trong thực tiễn. Cấu trúc của năng lực thẩm mỹ gồm: - Nhận thức thẩm mỹ (bao gồm ba quá trình: quá trình tri giác thẩm mỹ, hình thành biểu tượng thẩm mỹ, hoạt động phán đoán thẩm mỹ): Tri giác thẩm mỹ là sự nhận biết ban đầu của chủ thể thẩm mỹ về đối tượng thẩm mỹ, đây là sự phản ánh trực tiếp, toàn vẹn, liên kết nhiều yếu tố cảm tính, liên tưởng cảm xúc về thực tại; Biểu tượng thẩm mỹ phản ánh các đặc tính căn bản của đối tượng thẩm mỹ, sự đánh giá của chủ thể thẩm mỹ, phản ánh tính tích cực của chủ thể thẩm mỹ trước đối tượng thẩm mỹ; phán đoán thẩm mỹ là hình thức logic của hoạt động đánh giá thẩm mỹ của chủ thể.
- Nhu cầu và tình cảm thẩm mỹ: Nhu cầu thẩm mỹ là loại nhu cầu riêng biệt trong hệ thống nhu cầu xã hội của con người, nó là trạng thái đòi hỏi thỏa mãn các thiếu hụt về thẩm mỹ, về cái đẹp; Tình cảm thẩm mỹ là tình cảm nảy sinh từ sự tác động giữa chủ thể với hiện thực và đối tượng thông qua khâu hình tượng…(Hình tượng có vai trò rất cơ bản trong tình cảm thẩm mỹ, giúp cho tình cảm thẩm mỹ trở thành động lực để sáng tạo nghệ thuật. Do ảnh hưởng của những tình cảm thẩm mỹ, nhân cách con người cũng có những biến đối lớn lao, chúng để lại những dấu ấn không bao giờ phai, những thần tượng sâu trong kí ức con người).