phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận về dạy học giao tiếp khẩu ngữ Chƣơng 2: Thực trạng dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn ở một số trƣờng THPT tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 3: Một số giải pháp bồi dƣỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong dạy học Ngữ văn ở trƣờng THPT tỉnh Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ 1. Khái quát về giao tiếp khẩu ngữ 1. Khái niệm khẩu ngữ Hiện nay, các nhà khoa học đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khẩu ngữ. Tác giả Hồ Ngọc Đức cho rằng khẩu ngữ là “Khả năng biểu đạt bằng lời nói”, là ngôn ngữ nói thông thƣờng, dùng trong cuộc sống hằng ngày, có đặc điểm phong cách đối lập với phong cách viết [22.
Theo Từ điển bách khoa toàn thƣ Việt Nam, khẩu ngữ là: “Ngôn ngữ tồn tại chủ yếu ở dạng nói, đƣợc sử dụng để trao dổi tƣ tƣởng, tình cảm trong sinh hoạt hàng ngày. Hình thức thông thƣờng là đối thoại. Có đặc điểm cơ bản là phát ngôn ngắn, đơn giản về cấu trúc, thiên về sắc thái cảm xúc, nhiều biến thể phát âm” [45.tr243] Theo Từ điển Tiếng Việt: “Khẩu ngữ là ngôn ngữ nói thông thƣờng, dùng trong cuộc sống hàng ngày, có đặc điểm đối lập với phong cách viết” [44. Phong cách ngôn ngữ Tiếng Việt có thể chia làm hai loại hình: Phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ và Phong cách ngôn ngữ gọt giũa.
Khẩu ngữ là ngôn ngữ mà con ngƣời sử dụng trong giao tiếp bằng lời nói. Khẩu ngữ đƣợc hiểu là cách sử dụng ngôn ngữ, là công cụ giao tiếp chủ yếu của nhân loại trong các mối quan hệ tự nhiên và xã hội. Trƣớc khi chữ viết ra đời, loài ngƣời giao tiếp với nhau bằng lời nói, sau khi chữ viết ra đời, loài ngƣời sáng tạo ra ngôn ngữ viết cũng dựa trên cơ sở của lời nói. Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của khẩu ngữ đối với việc sử dụng ngôn ngữ.
Từ những năm 50 của thế kỉ 20, cho đến nay các nƣớc có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới nhƣ Nhật, Anh, Pháp, Mĩ… đã tiến hành cải cách Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 chƣơng trình và giáo trình dạy học tiếng mẹ đẻ theo định hƣớng phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh. Và khái niệm về khẩu ngữ đƣợc xác định và trình bày nhƣ sau: Khẩu ngữ là lời nói, là âm thanh phát ra từ cơ quan phát âm của ngƣời nói, dùng nó để biểu thị tƣ tƣởng, tình cảm của mình. Khẩu ngữ có hai dạng lời đối thoại, lời độc thoại và có các đặc điểm sau: Khẩu ngữ là ngôn ngữ của âm thanh. Là một phƣơng tiện trao đổi thông tin trong xã hội, có khả năng truyền cảm rất lớn.
Trong giao tiếp khẩu ngữ, ngữ điệu có vai trò đặc biệt quan trọng. Nhịp điệu lời nói nhanh hay chậm, độ cao thấp của giọng nói, sự ngắt đoạn, đều có ảnh hƣởng tới hiệu quả giao tiếp. Cùng với ngữ điệu, các phƣơng tiện phụ trợ phi ngôn ngữ nhƣ ánh mắt, vẻ mặt cử chỉ hay điệu bộ đều có mức ảnh hƣởng nhất định tới hiệu quả biểu đạt giao tiếp. Khẩu ngữ đòi hỏi sự ứng xử linh hoạt về lời nói và có thể sử dụng những câu ngắn, cấu tạo đơn giản.
Trong hoàn cảnh giao tiếp khẩu ngữ, có những câu không trọn vẹn về cấu tạo và nội dung nhƣng nhờ hoàn cảnh giao tiếp mà ngƣời nghe vẫn hiểu đƣợc những điều ngƣời nói muốn truyền đạt một cách chính xác. Khái niệm giao tiếp khẩu ngữ Sách giáo viên Tiếng Việt 5 [47.tr6] đã chỉ ra giao tiếp là hoạt động trao đổi tƣ tƣởng, tình cảm, cảm xúc nhằm thiết, lập quan hệ, sự hiểu biết, cộng tác giữa các thành viên trong xã hội. Hoạt động giao tiếp gồm các hành vi nhận thông tin và phát thông tin. Trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể đƣợc thực hiện bằng hai hình thức khẩu ngữ: nghe, nói, bút ngữ: đọc, viết.
Hoạt động giao tiếp có thể đƣợc thực hiện bằng nhiều cách thức, bằng những phƣơng tiện khác nhau, nhƣ hội họa, âm nhạc, điêu khắc… Nhƣng ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài ngƣời. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 10 Nhƣ vậy giao tiếp khẩu ngữ đƣợc hiểu ngắn gọn là giao tiếp bằng lời nói để truyền đạt thông tin, trao đổi tƣ tƣởng tình cảm. Đặc điểm của giao tiếp khẩu ngữ 1. Sự khác nhau của năng lực nghe nói và năng lực giao tiếp khẩu ngữ Sự khác nhau của năng lực nghe nói và năng lực giao tiếp khẩu ngữ ở chỗ: năng lực nghe nói nhờ vào năng lực tiếp nhận và biểu đạt thông tin lời nói khẩu ngữ.
Giao tiếp khẩu ngữ là sự kết hợp giữa tri thức lời nói và kĩ năng giao tiếp, không những cần phải chú ý đến chất lƣợng của nghe nói mà còn chú ý đến sự chính xác, phù hợp, khéo léo và nhạy bén trong quá trình giao tiếp. Năng lực giao tiếp khẩu ngữ còn có tính chiều hƣớng, tính động thái, tính phức hợp, tính tại chỗ và ngắn gọn. Tính chiều hƣớng là chỉ giao tiếp khẩu ngữ không chỉ bao gồm tính biểu thuật một chiều, nó cũng bao gồm tính trao đổi hai chiều. Khi nói chuyện một chiều, học sinh phải suy nghĩ tổ hợp từ nhƣ thế nào nói cho có lý, đồng thời cũng phải chú ý đến phản ứng của ngƣời nghe để điều chỉnh giao tiếp cho phù hợp, giao tiếp đƣợc tiến hành theo hai chiều, đƣợc thúc đẩy bởi sự phối hợp của hai bên.
Tính phức hợp đƣợc thể hiện ở hai mặt, đầu tiên đối với cá thể HS, trong quá trình giao tiếp HS là ngƣời phát ra câu chuyện, đồng thời cũng có thể là ngƣời tiếp nhận câu chuyện, sau đó đối với hành vi lời nói hoàn thành giao tiếp khẩu ngữ cần phải có nhiều hệ thống tham dự nhƣ: tƣ duy, ngôn ngữ, tình cảm, ánh mắt, động tác của tay, biểu cảm khuôn mặt. Các hệ thống này hỗ trợ phối hợp, điều hòa nhất quán với nhau mới hoàn thành nhiệm vụ giao tiếp. Tính hoàn cảnh là chỉ tất cả các hoạt động giao tiếp khẩu ngữ, đều là đối tƣợng đối diện mặc định, đƣợc đặt trong hoàn cảnh ngôn ngữ mặc định, vì thế khi giao tiếp cần phải tính tới hai vấn đề: thứ nhất, cần phải căn cứ vào ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 11 cảnh để tiến hành trao đổi lời nói, ngƣời nói cần xem xét đối tƣợng giao tiếp, nơi tiến hành giao tiếp, thời gian tiến hành giao tiếp có hợp lí hay không. Thứ hai, trong quá trình trao đổi cần phải căn cứ vào sự phản hồi thông tin khác nhau, cần phải linh hoạt thêm một bƣớc để lựa chọn các sách lƣợc giao tiếp nhƣ: giải thích, lặp lại, ngừng ngắt, trở lại, dự đoán, chuyển chủ đề câu chuyện.
Tính phân tán trong giao tiếp khẩu ngữ, đặc biệt là trong hoạt động giao tiếp hai chiều khá rõ nét. Nguyên nhân là một mặt bởi chịu sự hạn chế về thời gian và không gian, ngƣời giao tiếp không kịp đặt những câu dài, phức tạp, mặt khác trong hoàn cảnh đặc định, hai bên giao tiếp có thể dựa vào biểu cảm, yếu tố ngoài ngôn ngữ nhƣ ánh mắt, cử chỉ, thái độ. để hiểu ý, không phải diễn giải nhiều. Bên cạnh đó còn là sự khác biệt của việc tích lũy quy tắc cú pháp của HS trực tiếp ảnh hƣởng đến tốc độ và tính chuẩn xác của việc tìm tòi, sắp xếp từ ngữ.
Từ đó có thể thấy năng lực giao tiếp khẩu ngữ và năng lực nghe nói tuy có mối liên hệ, nhƣng chúng có tính độc lập tƣơng đối. Năng lực giao tiếp khẩu ngữ có tính độc lập tƣơng đối, nó có độ rộng và độ sâu riêng của nó. Nó là sự kết hợp giữa kĩ năng giao tiếp và tri thức lời nói, là một loại kinh nghiệm giao tiếp khẩu ngữ đƣợc thể hiện sống động trong hoàn cảnh mặc định. Chính vì thế, dạy học giao tiếp khẩu ngữ không chỉ bao gồm dạy học nghe nói thông thƣờng mà còn cả việc dạy học các cách trao đổi trong các hoàn cảnh khác nhau và thông qua các hoạt động thực tiễn để nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ của HS.
Tức là không chỉ chú ý đến chất lƣợng nghe nói mà còn phải chú ý đến sự thích đáng, khéo léo, nhạy bén trong giao tiếp. Sự khác biệt giữa khẩu ngữ hàng ngày và việc dạy học giao tiếp khẩu ngữ Khẩu ngữ mà chúng ta đề cập đến là loại khẩu ngữ dùng để thực hiện một ý đồ lời nói nào đó nhƣ nói chuyện, phỏng vấn, đàm phán… Lấy việc thực hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 12 ý đồ lời nói làm mục đích. Tuy nhiên khi đi dạy học, nhiệm vụ của việc rèn luyện giao tiếp khẩu ngữ đảm nhiệm phức tạp hơn nhằm giúp HS nắm vững và hiểu hiểu quá trình hình thành năng lực giao tiếp khẩu ngữ. Bồi dƣỡng cho HS năng lực tri giác đảm bảo tính sắc bén trong lời nói là nói nhƣ thế nào, làm cho tất cả HS đều có đƣợc cơ hội và năng lực phát triển tài nguyên ngôn ngữ.
Giúp cho HS điều chỉnh đƣợc khẩu ngữ, bút ngữ và thói quen cảm giác ngôn ngữ để tiến hành giao tiếp có hiệu quả, đạt đƣợc mục đích học tập, giao lƣu, vui chơi… của cá nhân mình. Từ đó giúp cho HS hiểu đƣợc sự khác biệt về mô thức ngôn ngữ giữa các nền văn hóa, các dân tộc, các khu vực khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau, bồi dƣỡng cho HS có khả năng sử dụng thành thạo và có tính lựa chọn hợp lí khi sử dụng các phƣơng tiện thông tin đại chúng. So với khẩu ngữ hàng ngày, dạy học giao tiếp khẩu ngữ có ba đặc trƣng lớn sau: Thứ nhất là tính toàn diện thể hiện ở hai mặt sau: với cá thể học sinh cần phải rèn luyện khả năng sử dụng, vận dụng nhiều hình thức giao tiếp khẩu ngữ. Với các nhân HS, loại năng lực này là bộ phận quan trọng cấu thành năng lực tiếng mẹ đẻ, giúp HS đạt đƣợc, củng cố và phát triển ý nghĩa cụm từ ở tiếng mẹ đẻ, trở thành năng lực đầu tiên sau khi rời nhà trƣờng đủ để phản ứng đối với vấn đề ngôn ngữ và hoàn cảnh.