phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia thành 03 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tuyển chọn xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập bồi dưỡng học sinh yếu kém. Chƣơng 2: Xây dựng hệ thống lí thuyết và bài tập phần điện li dùng trong bồi dưỡng học sinh yếu kém trường THPT. Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP PHẦN ĐIỆN LI LỚP 11 BỒI DƢỠNG HỌC SINH YẾU KÉM 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Thực tế hiện nay lượng học sinh yếu kém môn Hóa học ngày càng có xu hướng tăng lên.
Chúng đúng mức và kịp thời. Đây là một hướng nghiên cứu có tính thực tiễn cao góp phần nâng cao chất lượng tôi nhận thấy việc bồi dưỡng HS yếu kém cần phải được quan tâm giáo dục phổ thông. Hiện nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này như: - Phương pháp bồi dưỡng HS yếu môn Hóa học lấy lại căn bản, khóa luận tốt nghiệp (1996) của sinh viên Trần Thị Hoài Phương (ĐHSP HN). - Những biện pháp giúp đỡ HS yếu kém đạt được yêu cầu và kết quả cao hơn trong học tập môn hóa học ở các trường THPT các tỉnh miền núi phía Bắc, luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục (2005) của Trịnh Văn Thịnh (ĐHSP HN).
- Sử dụng các phương pháp dạy học phức hợp bồi dưỡng HS yếu kém ôn hóa học THPT, Luận văn thạc sĩ giáo dục học (2008) của Phan Thị Huyền (ĐHSP HN). - Nâng cao khả năng học tập cho HS yếu kém trong DHHH chương 2 và 4 lớp 10 chương trình cơ bản – THPT, Luận văn thạc sĩ Sư phạm hóa học (2012) của Nguyễn Thị Oanh, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc Gia HN. - Một số biện pháp bồi dưỡng HS yếu kém trong DHHH (Chương hiđrocacbon no, chương hiđrocacbon không no – Hóa học 11), Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục (2013) của Ngô Minh Phương, Trường ĐHSP HN. - Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học 12 phần kim loại nhằm nâng cao hiệu quả học tập của học sinh yếu kém, Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học (2014) của Nguyễn Thùy Dương, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia HN.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các công trình nghiên cứu này là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng trong việc bồi dưỡng và phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh yếu kém, nâng cao chất lượng DHHH. Theo chúng tôi điểm mấu chốt của HS yếu kém là HS chưa hứng thú học tập môn Hóa học. Do đó nghiên cứu cần làm rõ vấn đề làm thế nào để nâng cao hứng thú học tập của HS yếu kém? Từ đó phát triển năng lực nhận thức cho HS yếu kém. Quan điểm dạy học phân hóa 1.
Cơ sở lý luận của dạy học phân hóa 1. Thuyết đa trí thông minh của Howard Gardner[1] Theo Gardner, trí thông minh được ông quan niệm như sau “là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ. Sau đây là 7 loại trí thông minh mà Gardner đã đề nghị tại thời điểm đó. Các loại trí tuệ Khả năng và nhận thức Trí tuệ ngôn ngữ Sử dụng hiệu quả ngôn ngữ và lời nói Trí tuệ logic - toán học Logic và các con số Trí tuệ âm nhạc Âm nhạc, âm thanh, giai điệu Trí tuệ hình thể - động năng Kiểm soát chuyển động cơ thể Trí tuệ không gian Các hình ảnh và không gian Trí tuệ giao tiếp Cảm xúc của những người khác Trí tuệ về nội tâm Tự nhận thức Lý thuyết của Gardner đã chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều tồn tại một vài kiểu thông minh trên, tuy nhiên, sẽ có kiểu thông minh trội hơn trong mỗi người.
Bên cạnh đó, Gardner đã chỉ ra rằng trong trường học thông thường chỉ đánh giá một học sinh thông qua 2 loại trí thông minh là trí thông minh ngôn ngữ và trí thông minh về logic/toán học, và điều này là không chính xác. Trong trường học đã bỏ rơi các em có thiên hướng học tập qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp.đồng thời lèo lái tất cả mọi học sinh đi 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo cùng một con đường và cùng chịu chung một sự đánh giá và phán xét. Nhiều học sinh đã có thể học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp thu kiến thức bằng chính thế mạnh của chúng. Thuyết đa trí tuệ đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi nhà trường và giáo viên coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi học sinh: mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi học sinh đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau.
Nhà trường phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các khuynh hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của xã hội. Làm được điều đó, chúng ta sẽ giúp mỗi học sinh tỏa sáng và thành công trong cuộc sống của chúng. Thuyết phong cách học tập Theo thuyết PCHT đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ những năm 1960. Trên thế giới hiện nay có hàng trăm mô hình PCHT khác nhau.
Qua nghiên cứu các tài liệu [5], [6] về PCHT, có thể nhận thấy rằng các nội dung côt lõi của định nghĩa PCHT như sau: - PCHT là những đặc điểm riêng của cá nhân. - PCHT bao gồm các đặc điểm về nhận thức, cảm xúc, sinh lí - PCHT chỉ ra các cách thức ưu thế của cá nhân tiếp nhận - PCHT chỉ ra cách thức ưu thế của cá nhân tiếp nhận, xử lý và lưu giữ thông tin trong môi trường học tập. - PCHT tương đối bền vững 1. Phân loại dạy học phân hóa [19], [23] Dạy học phân hóa không đơn thuần là phân loại người học theo năng lực nhận thức mà ở đây là PPDH phù hợp với từng đối tượng người học trên cơ sở am hiểu từng cá thể, GV tiếp cận người học ở tâm lí, năng khiếu… Dạy học phân hóa xuất phát từ nhu cầu đảm bảo thực hiện tốt mục đích dạy học, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của từng cá nhân, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong một lớp học luôn có sự chênh lệch về trình độ nhận thức của mỗi thành viên.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân hóa theo mức độ nhận thức Trong lớp học có các nhóm HS có trình độ nhận thức khác nhau: giỏi, khá, trung bình, yếu. Dựa trên trình độ nhận thức của người học mà GV giao nhiệm vụ với mức độ khó hay dễ tương ứng. Phân hóa theo hứng thú của người học: Căn cứ vào đặc điểm hứng thú học tập của HS để GV tổ chức cho HS tìm hiểu, khám phá nhận thức.
Phân hóa theo sức học của người học: Căn cứ vào thực chất năng lực, trình độ của HS để GV tổ chức những tác động sư phạm phù hợp với HS để kích thích tính tích cực học tập của HS. Dựa trên trình độ giỏi, khá, trung bình, yếu, kém mà GV giao cho HS những nhiệm vụ tương ứng. Phân hóa theo động cơ, lợi ích học tập của người học: Đối với những nhóm HS có nhu cầu tìm tòi, nghiên cứu, GV cần xác định nhiệm vụ học tập cao hơn và đưa thêm nhiều nội dung học tập cho HS nhóm này tự học. Đối với nhóm HS có nhu cầu học tập không cao thì GV phải chú ý đến nhiệm vụ, nội dung cơ bản và bổ sung, liên hệ những vấn đề thực tiễn giúp HS tăng sự hứng thú, động cơ học tập.
Đổi mới phương pháp dạy học Việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông có thể thực hiện theo các hướng sau: 1. Xây dựng cơ sở lý thuyết có tính phương pháp luận để tìm hiểu bản chất PPDH và định hướng hoàn thiện PPDH, chú ý những quan điểm phương pháp luận về PPDH 2. Hoàn thiện chất lượng các PPDH hiện có và sử dụng phối hợp nhiều PPDH. Việc hoàn thiện chất lượng PPDH và sử dụng trong dạy học hóa học được thực hiện bằng nhiều cách: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tổ chức cho người học được học tập trong các hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo.
- Sử dụng phối hợp nhiều PPDH của giáo viên, nhiều hình thức hoạt động của HS, giúp HS được hoạt động chủ động, sáng tạo, khai thác và tận dụng mặt tốt của mỗi PPDH. - Tăng cường năng lực vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống và sản xuất luôn đổi mới. Chú ý hình thành năng lực tự giải quyết vấn đề cho HS và có biện pháp hình thành từng bước năng lực tự giải quyết vấn đề một cách sang tạo từ thấp đến cao. - Đổi mới các hoạt động của HS và tăng cường thời gian dành cho HS hoạt động trong giờ học.
Dành thời gian thích đáng để chỉ dẫn, uốn nắn phương pháp học tập cho HS. - Từng bước đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, nhằm đánh giá những biểu hiện chủ động sáng tạo của HS, kỹ năng thực hành và kỹ năng biết vận dụng sáng tạo kiến thức có liên quan để giải quyết các vấn đề thực tiễn. - Phương pháp dạy học hóa học phải thể hiện được phương pháp nhận thức khoa học đặc trưng của bộ môn hóa học là thực nghiệm hóa học, do đó phải tăng cường sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan, phải dạy cho HS cách tự nghiên cứu và tự học khi giải quyết chúng. Tăng cường sử dụng phương pháp nghiên cứu và tự học khi sử dụng chúng.
Tăng dần sử dụng phương pháp nghiên cứu trong khi tiến hành các thí nghiệm. Sáng tạo ra các PPDH mới. Việc sáng tạo ra các PPDH mới có thể bằng các cách sau: a. Liên kết nhiều PP riêng lẻ thành những tổ hợp PPDH phức hợp (có hiệu quả cao hơn) b.
Liên kết PPDH với các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại (phương tiện nghe nhìn, máy vi tính…) tạ ra tổ hợp PPGD có sử dụng phương tiện lĩ thuật. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chuyển hóa phương pháp khoa học thành phương pháp đặc thù bộ môn: Như thực nghiệm hóa học, tập nghiên cứu khoa học (phương pháp dạy học dự án), phương pháp Grap dạy học.