phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về bồi dƣỡng CCCX Chƣơng 2: Thực trạng bồi dƣỡng CCCX ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả bồi dƣỡng CCCX ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. 9 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Chính quyền cấp xã và vai trò của chính quyền cấp xã 1. Khái niệm chính quyền cấp xã Xã là tên gọi chung các đơn vị hành chính thuộc cấp thấp nhất ở khu vực nông thôn, ngoại thành, ngoại thị của Việt Nam.
Thuật ngữ đơn vị hành chính cấp xã đƣợc dùng để chỉ toàn bộ cấp đơn vị hành chính thấp nhất của Việt Nam, nghĩa là bao gồm cả xã, phƣờng và thị trấn. Theo điều 110, Hiến pháp 2013 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Các đơn vị hành chính của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc phân định nhƣ sau: nƣớc chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ƣơng chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tƣơng đƣơng; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phƣờng và xã; quận chia thành phƣờng…”[40]. Ở nông thôn và ở các huyện thuộc thành phố, thị xã thì gọi là Xã; ở các Quận thuộc thành phố thì gọi là Phƣờng hoặc Thị trấn. Nhƣ vậy, cấp xã bao gồm xã, phƣờng, thị trấn là cấp hành chính cuối cùng trong hệ thống hành chính bốn cấp của nƣớc ta, là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc, chăm lo đời sống của nhân dân và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở cơ sở.
Đứng đầu xã (phƣờng, thị trấn) là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã (phƣờng, thị trấn) do Hội đồng nhân dân xã (phƣờng, thị trấn) bầu ra. Bộ máy làm việc của UBND xã (phƣờng, thị trấn) gồm có các phòng, ban: Công an, Tƣ pháp - Hộ tịch, Tài chính - Kế toán, Văn hóa - Xã hội ., với các Trƣởng ban, Phó ban và một số nhân viên. Các công chức xã hƣởng lƣơng theo chế độ bằng cấp và ngạch bậc do Nhà nƣớc quy định. 10 Luan van Hội đồng nhân dân xã đƣợc cử tri trong xã (phƣờng, thị trấn) bầu ra 5 năm một lần, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, dân chủ, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Bên cạnh Chủ tịch, có Phó Chủ tịch phụ trách một số việc đƣợc giao. Bên cạnh các cơ quan thuộc UBND xã (phƣờng, thị trấn), còn có các tổ chức Hội, Đoàn thể, dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy (nhƣ: Hội Nông dân, Phụ nữ, Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.) Trong hệ thống hành chính nƣớc ta, chính quyền xã - phƣờng - thị trấn (gọi chung là cấp xã) là chính quyền cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn chỉnh: Trung ƣơng, tỉnh, huyện, xã. Tóm lại, có thể hiểu khái quát khái niệm chính quyền cấp xã nhƣ sau: Chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, bao gồm HĐND và UBND, thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, có chức năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương, theo Hiến pháp, Pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên. Đặc điểm của chính quyền cấp xã Chính quyền cấp xã ở Việt Nam có những đặc điểm sau: Thứ nhất, chính quyền cấp xã là cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc với nhân dân.
Do đó, CBCC cấp xã quan hệ công tác không chỉ với tƣ cách là ngƣời thực thi quyền lực nhà nƣớc mà còn là ngƣời trong mối quan hệ gia tộc và xóm làng lâu đời. Hằng ngày, họ trực tiếp giải quyết các vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thực của đời sống của nhân dân nên yêu cầu đối với đội ngũ CBCC cấp xã cũng rất cao: họ không chỉ cần nắm rõ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc mà còn phải xử lý các mối quan hệ thấu tình đạt lý trong quan hệ xóm làng. Ngày nay, sự nghiệp đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc đã và đang làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi từng ngày trên các lĩnh vực, 11 Luan van nên yêu cầu đối với CBCC cấp xã ngày càng cao, không chỉ đòi hỏi ở họ có tƣ duy mới, trình độ và kiến thức mới về chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, quản lý mà còn phải có kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn trong xử lý các mối quan hệ phức tạp trong đời sống hằng ngày với nhân dân. Thứ hai, tổ chức bộ máy của chính quyền xã có những nét đặc thù so với các đơn vị hành chính cấp trên.
Ở cấp xã chỉ có HĐND và UBND quản lý địa phƣơng, trong đó HĐND là cơ quan quyền lực nhà nƣớc, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phƣơng và UBND là cơ quan chấp hành, đồng thời là cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng mà không có các cơ quan tƣ pháp nhƣ: Viện kiểm sát và Tòa án. Vì thế, chính quyền cấp xã phải quản lý nhà nƣớc về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng theo thẩm quyền do pháp luật quy định. Thứ ba, chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể đƣa chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc vào thực tế cuộc sống. Ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã nói chung, chính quyền cấp xã còn phải căn cứ vào tình hình thực tế của địa phƣơng mình chủ động đƣa ra các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân trong việc thực hiện đƣờng lối, chính sách của Đảng; vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; chủ động đƣa những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất lao động, phát triển ngành nghề mới, tìm thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm của địa phƣơng, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân địa phƣơng.
Thứ tư, trong hoạt động của chính quyền cấp xã, giữa HĐND và UBND khó tách biệt nhau về các lĩnh vực thẩm quyền và UBND có ƣu thế vƣợt trội. Chính quyền cấp xã đƣợc coi là một cấp chính quyền hoàn chỉnh, bao quát toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở. Nội dung các nghị quyết của HĐND và quyết định của UBND nhìn chung là giống nhau, chỉ khác ở chỗ: HĐND quyết định biện pháp, còn UBND tổ chức thực hiện. Trong khi đó, tổ chức bộ máy của HĐND không đủ sức hoạt động độc lập mà chủ yếu dựa vào bộ máy của UBND để soạn thảo các nghị quyết.
12 Luan van Theo Điều 5, Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi): "Hội đồng nhân dân cấp xã có Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân". Đối với cấp tỉnh và cấp huyện: "Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có Thƣờng trực Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân". Với cơ cấu tổ chức nhƣ trên, các ban của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện có khả năng soạn thảo các nghị quyết, thức hiện chức năng quyết định các biện pháp, chủ trƣơng về các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện. Trong khi đó, ở cấp xã, do không có bộ máy giúp việc, đại biểu HĐND lại kiêm nhiệm, việc chuẩn bị các kỳ họp hoàn toàn dựa vào bộ máy của UBND và mỗi năm chỉ họp từ 3 - 4 lần.
Thứ năm, các đơn vị hành chính cấp xã, đƣợc hình thành trên nền tảng những địa điểm quần cƣ, liên kết dân cƣ trong một khối liên hoàn thống nhất. Mọi vấn đề của địa phƣơng đều liên quan chặt chẽ với nhau và cần phải đƣợc giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nƣớc, dân cƣ và giữa dân cƣ với nhau. Chính quyền ở đây không chỉ là cơ quan cai trị - quản lý mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cƣ [34, tr. Nhƣ vậy, có thể thấy, đƣờng lối, chính sách, pháp luật có đi vào thực tiễn cuộc sống hay không, có tác dụng, hiệu quả đến đâu, đúng sai ra sao đƣợc thể hiện ngay trong thực tiễn hoạt động quản lý nhà nƣớc của chính quyền cấp xã.
Vì vậy, tuy là cấp thấp nhất trong hệ thống quản lý nhƣng cấp xã luôn có tầm quan trọng đặc biệt, liên quan đến sự ổn định, bền vững, thành bại của chế độ. Với vị trí đặc thù đó, nên chính quyền cấp xã có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị, hành chính của đất nƣớc ta. Là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nƣớc với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nƣớc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phƣơng theo thẩm quyền đƣợc phân cấp, đảm bảo cho các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc, đƣợc triển khai thực hiện trong cuộc sống. Công chức cấp xã 1.
Khái niệm Nhiều quốc gia trên thế giới cho rằng những ngƣời làm việc tại các cơ quan địa phƣơng không gọi là công chức nhà nƣớc mà gọi là công chức địa phƣơng, nhƣng địa vị pháp lý của họ tƣơng tự nhƣ công chức nhà nƣớc làm việc tại các cơ quan nhà nƣớc ở trung ƣơng. Quan niệm trên bắt nguồn từ việc không coi các cơ quan của địa phƣơng là cơ quan nhà nƣớc, mà đó chỉ là các cơ quan tự quản của cộng đồng [24,tr. Tuy nhiên, ở nƣớc ta, các cơ quan thuộc đơn vị hành chính cấp xã nhƣ HĐND và UBND đều là những cơ quan nhà nƣớc. Do đó, CBCC cấp xã đều đƣợc coi là CBCC nhà nƣớc.
CBCC cấp xã ở Việt Nam chỉ đƣợc thừa nhận và hình thành từ khi Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh CBCC năm 2003 đƣợc ban hành. Nếu xét theo cấp hành chính thì công chức gồm công chức ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.