CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 13 1. TỔNG QUAN VỀ BỌ XÍT MẮT TO Geocoris spp. Giới thiệu Hình 1: Bọ xít mắt to Geocoris spp (Nguồn: Internet) Bọ mắt to Geocoris spp. (Hemiptera: Geocoridae) là loài côn trùng ăn tạp, phổ biến, chúng có thể ăn thực vật câu hỏi đặt ra liệu chúng có lợi hay gây hại cho cây trồng.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã cho biết tiềm năng của Geocoris spp. đóng vai trò là tác nhân kiểm soát sinh học trong nông nghiệp và tầm quan trọng của chúng như tác nhân bảo vệ gián tiếp thực vật trong tự nhiên. Những nghiên cứu này đã chứng minh rằng Geocoris spp. làm giảm hiệu quả quần thể động vật ăn cỏ và tăng năng suất cây trồng (Schuman và Baldwin, 2013).
Bọ xít mắt to Geocoris spp. thuộc họ Geocoridae, bộ Hemiptera là loại côn trùng ăn tạp xuất hiện trên toàn thế giới (Tamaki và Weeks, 1972). Chúng là loài côn trùng có lợi cho cây trồng, nó ăn vô số những con côn trùng gây hại trên cây trồng như: cây công nghiệp, cỏ. Một số loài côn trùng gây hại cũng được cho là ăn hạt và các bộ phận của thực vật (Eubank & Denno, 1999, và Sweet, 2000).
là một trong những côn trùng được chú ý nghiên cứu ở Florida và một số nơi khác vì chúng là loài thiên địch ăn thịt có lợi ích to lớn cho cây trồng (Mead, 2001). là loài côn trùng săn mồi chúng ăn những côn trùng nhỏ như: Ve, rệp, sâu bướm nhỏ,… Những con bọ này có thể được tìm thấy trong cảnh quan, khu vườn, nhiều loại rau và đồng ruộng hoa màu. Sự phân bố của bọ xít mắt to Geocoris spp. Những con bọ mắt to Geocoris spp.
(Hemiptera: Geocoridae) là động vật ăn tạp, có thể ăn một số loài côn trùng và bọ ve (Schuman et al. Bọ xít mắt to Geocoris spp. phân bố ở các vùng Assam., Borneo, Burma, Ceylon, China, Formosa, India, Sumatra (Slater 1964); Ấn Độ, Lào, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam (Kobor 2018); Trung Quốc, Đài Loan, Khu vực Phương Đông (Péricart 2001). Bọ mắt to Geocoris spp.
Có khoảng 19 loài được tìm thấy ở Mỹ và Canada. A B C D Hình 2: Một số loài Geocoris spp (Nguồn: Internet) Chú thích: A: Loài Geocoris bullatus, B: Loài Geocoris uliginosus, C: Loài Geocoris punctipes, D: Loài Geocoris ochropterus Trong đó, Loài Geocoris bullatus phân bố rộng rãi tại Hoa Kỳ và Canada và có rất nhiều ở phía Nam Florida. Loài Geocoris uliginosus phân bố khắp Hoa Kỳ và phía Nam Canada chúng thường xuất hiện ở các bãi cỏ. Loài Geocoris punctipes xuất hiện ở khắp Florida và nhiều nơi khác như: phía Tây New Jersey, miền Nam Indiana, phía Nam Colorado, Tây Nam Texas, Arizona, California và Mexico.
Loài Geocoris punctipes cũng được tìm thấy trong vườn cây cảnh, vườn rau và dâu tây hệ thống nhà kính (Mead, 2001). Ngoài ra, Geocoris ochropterus là một loài rất phổ biến được tìm thấy trong bông, linh lăng, ngô, hướng dương, chè, và các loại thực vật có hoa và ăn quả khác. Geocoris ochropterus được phân bố rộng rãi khắp mọi nơi và tập trung chủ yếu ở Iran, Tây Azarbaijan, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Việt Nam,… 1. Các ảnh hưởng tích cực mà bọ xít mắt to Geocoris spp.
mang lại Chúng có lợi vì chúng có thể ăn vô số côn trùng gây hại trong nông nghiệp. Bọ mắt to Geocoris spp. là loài côn trùng nhận được sự quan tâm nghiên cứu ở Florida và 15 các nơi khác vì những lợi ích mà nó mang lại cho cây trồng (Mead, 2001). Tiềm năng cho Geocoris spp.
Là có các biện pháp kiểm soát sinh học được thành lập tốt. Con trưởng thành và con non có thể tiêu thụ hàng chục con mồi mỗi ngày (Hagler và Cohen 1991). Tuy nhiên, do kích thước nhỏ nên việc định lượng động vật ăn thịt trên đồng ruộng rất khó khăn (Hagler và Naranjo 1994). Các loại cây che phủ như cỏ ba lá và đậu tằm có thể tăng cường quần thể bọ mắt to và cải thiện khả năng săn mồi chống lại sâu bệnh ở một số loại cây trồng (Bugg et al.
Các nghiên cứu khác đã chứng minh tiềm năng hiệu quả của bọ mắt to đối với các loài gây hại khác nhau trên cây trồng trong nhà kính (Tamaki và Weeks 1972, Pendleton 2002). BỌ XÍT MẮT TO Geocoris ochropterus. Hình 3: Bọ xít mắt to Geocoris ochropterus (Dưới kính soi nổi LABOMED vật kính 3.5X) Geocoris ochropterus là một loài phổ biến sống kí chủ hoa hướng dương, bông, hoa màu… (Kapadia và Puri, 1991), linh lăng, ngô và chè (Sannigrahi và Mukhopadhyay, 1992). Ở Việt Nam, bọ thường xuất hiện ở cây hoa màu, ké hoa đào, cúc nhám… 2.
Đặc điểm về hình thái Trứng: Hình trụ, thường được đẻ riêng lẻ trên bề mặt lá hoặc cành, lúc mới đẻ có màu vàng nhạt, khi gần nở chuyển qua màu sẫm. Một vài ngày sau khi trứng được đẻ ra có xuất hiện điểm mắt màu đỏ tươi phát triển bên trong trứng (Sue O’Brien, 2010). Chiều dài và chiều rộng trung bình của trứng G. ochropterus là 0,90 mm và 0,35 mm (Varshney R.
Ấu trùng: Hình bầu dục, thân có màu xám đen. Đầu bọ xít bắt mồi mắt to rộng lớn, mắt lớn và nhô lên, miệng giống như kim giấu bên dưới đầu và cơ thể và có thể được 16 đưa ra phía trước bắt mồi rất linh hoạt. Ấu trùng phát triển vào kích thước khác nhau qua từng ngày. Ấu trùng được phân ra 5 tuổi: ấu trùng tuổi 1, 2, 3, 4 và 5.
Khi chuyển từ tuổi 5 sang trưởng thành cơ thể bọ xít bắt mồi mắt to có màu nâu đỏ và chuyển thành màu xám đen hoặc màu nâu sẫm sau đó 1 ngày. Trưởng thành: Con cái có kích thước lớn hơn con đực, con đực có phần cuối bụng nhỏ và dài hơn con cái. Trưởng thành có hình dạng thuôn nhỏ tương tự như ấu trùng, có thêm hai cánh, hình elip. Đầu của chúng có chiều ngang lớn hơn chiều dọc và nổi bật với đôi mắt hình lồi phía sau chỗ tiếp nối giữa đầu và mảnh lưng (đây là đặc điểm hình thái đặc trưng).
Bọ xít bắt mồi mắt to trưởng thành có màu nâu đỏ. Râu đầu: Hình gậy có 4 đốt, chân ngắn nhất, cuống râu dài nhất, đốt ngoài cùng to nhất và có màu vàng (phần còn lại có màu nâu sẫm), trên râu đầu có nhiều nhánh lông nhỏ. Vòi hút: Vòi hút của bọ xít bắt mồi mắt to có 5 đốt, vòi hút có kích thước nhỏ dần từ trong ra ngoài, đốt thứ tư có kích thước dài nhất, đốt thứ năm có chiều dài ngắn nhất và nhỏ nhất dùng để chích vào con mồi hút dịch. Đặc tính sinh học của bọ mắt to Geocoris ochropterus Quá trình sinh trưởng và phát triển của bọ xít thuộc kiểu biến thái không hoàn toàn (trứng-ấu trùng-thành trùng).
Bọ xít mắt to Geocoris ochropterus sinh sản nhiều thế hệ trong năm. Vào mùa xuân thành trùng bắt đầu đẻ trứng trên các đọt lá non trên cây kí chủ. Theo Schuman và Baldwin (2013). Tốc độ phát triển từ trứng thành con trưởng thành tương quan thuận với nhiệt độ từ 21oC đến 37oC; ngoài phạm vi này, trứng không thể sống được.
Ngoài ra chu kỳ chiếu sáng cũng làm ảnh hưởng đến sự phát triển của bọ xít. Theo James Hagler và Nicole Sanchez (2011), trứng được đẻ đơn lẻ trên lá hoặc thân cây và nở trong khoảng một tuần. Ấu trùng có 5 tuổi (James Hagler và Nicole Sanchez, 2011; trường Đại học Arizona, 2011). Thành trùng sống khoảng một tháng, từ lúc thành trùng vũ hóa đến chết con cái có thể đẻ 300 trứng (James Hagler và Nicole Sanchez, 2011).
Nhiệt độ và độ dài ngắn của ngày đêm cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình và thời gian sinh sản của bọ mắt to (Mead, 2001). 17 Theo McGregor và McDonough (1917), bọ xít mắt to có thời gian phát triển trung bình từ trứng đến thành trùng khoảng 30 ngày. Một số khả năng kiểm soát phòng trừ sinh học của bọ xít mắt to Geocoris ochropterus. Bọ xít mắt to Geocoris ochropterus là loài côn trùng nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu ở Florida và các nơi khác bởi lợi ích mà loài thiên địch này mang lại cho cây trồng (Mead, 2001).
Bọ mắt to là loài có phổ ăn mồi rất rộng (Ricardo Ramirez, 2011), kiểm soát sinh học hiệu quả, giúp duy trì quần thể dịch hại dưới ngưỡng thiệt hại (Funderbuck, 2003). Bọ mắt to sinh trưởng và phát triển trong các đám cỏ, bụi hoa dại, bụi rậm. Thành trùng cái bọ mắt to đẻ trứng trên lá, chồi của cây chủ. Việc ứng dụng bọ mắt to trong phòng trừ sinh học sâu hại trong thời gian lâu dài là hết sức cần thiết.
Chúng có thể ăn các con mồi có kích thước nhỏ hơn chúng và là loài thiên địch quan trọng đối với sâu hại trên cây trồng. Theo John Jackman (1999), ghi nhận ấu trùng và thành trùng đều săn mồi tìm thức ăn, chúng ăn nhiều loài côn trùng như: ăn sâu, bướm nhỏ, trứng sâu, nhện, bọ trĩ, rầy mềm…Khi thiếu thức ăn chúng sẽ ăn các hạt giống khác tuy nhiên chúng không gây hại cho cây trồng. Chúng xuất hiện chủ yếu ở trong các khu vực cây trồng. Chúng rất có lợi cho nền nông nghiệp.
Theo Addotn, Lingren và cộng sự, (1968) ghi nhận rằng ấu trùng bọ xít mắt to có thể ăn trung bình 47 con nhện và bọ mắt to trưởng thành ăn khoảng 83 con nhện đỏ mỗi ngày. Nghiên cứu cho rằng chúng có thể ăn khoảng 1600 con nhện từ giai đoạn ấu trùng phát triển cho đến khi trưởng thành. CÁC NGUỒN THỨC ĂN CỦA BỌ XÍT MẮT TO Geocoris ochropterus 3. Nhộng tằm Trong 100g nhộng tằm có 79,7g nước, 13g protein; 6,5g lipid và cung cấp tới 206 calo.
Bên cạnh đó, nhộng tằm còn là một loại thức ăn nhiều vitamin (vitamin A, B1, B2, PP, C. Đặc biệt, thực phẩm này còn có nhiều acid amin thiết yếu như valin, tyrosin, tryptophan. và các chất khoáng, nhất là canxi (40mg) và photpho (109mg). (WU, Xuli, et al.
Food Science & Nutrition) 18 3. Hạt hướng dương Hạt hướng dương chứa rất nhiều các chất vitamin và chất khoáng bổ dưỡng bao gồm axit amin, axit folic, sắt, canxi, và các vitamin E, B1, B5. Là nguồn cung cấp lành mạnh các axit béo thiết yếu ở dạng linoleic. Trong hạt hướng dương còn có chứa magie giúp phát triển xương làm cho xương chắc khỏe và hoạt động linh hoạt hơn.
Là nguồn cung cấp lành mạnh các axit béo thiết yếu ở dạng linoleic axit. Ngoài ra, hạt hướng dương có chứa các chất xơ, axit amin đặc biệt là tryptophan. Tryptophan là một loại axit amin giúp sản xuất serotonin – một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng. Serotonin làm giảm căng thẳng và thúc đẩy thư giãn.