CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu trên thế giới Ở lĩnh vực nghề nghiệp, việc chọn nghề và nhất là mối quan hệ giữa người lao động với nghề nghiệp, đã được nhiều nhà khoa học của nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu nhằm giúp cho thanh thiếu niên, học sinh có sự chọn lựa nghề nghiệp cho phù hợp với năng lực, thể lực, trí tuệ, hứng thú cá nhân và yêu cầu kinh tế của từng quốc gia. Theo người nghiên cứu tìm hiểu, Bộ công cụ hướng nghiệp đầu tiên trên thế giới là do nhà tâm lý học người Mỹ John Holland ( 1919 – 2008) đã dày công xây dựng dựa trên lý thuyết lựa chọn nghề nghiệp của ông. Lý thuyết đó đã chia con người ra 6 loại cá tính, theo ông hầu hết trong các môi trường làm việc sẽ phù hợp với một trong sáu tính cách của con người, mỗi người sẽ tương ứng và phù hợp với một ngành nghề cụ thể. Bộ công cụ hướng nghiệp của John Holland là bộ trắc nghiệm nhằm khám phá sở thích xu hướng chọn nghề của từng người.
Nghiên cứu về hướng nghiệp Cộng hòa Pháp là một trong những nước đã phát triển hướng học, hướng nghiệp và tư vấn nghề sớn nhất trên thế giới. Thế kỷ 19 (1848), những người làm công tác hướng nghiệp ở Pháp đã xuất bản cuốn: “ Hướng nghiệp chọn nghề” nhằm giúp thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp để sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ. Ngày 25/12/1922 Bộ Công nghiệp và Thương nghiệp Cộng hòa Pháp đã ban hành Nghị định về công tác hướng học, hướng nghiệp và thành lập Sở hướng nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi; ngày 24/5/1938 công tác hướng nghiệp đã mang tính pháp lý thông qua quyết định ban 5 Luan van hành chứng chỉ hướng nghiệp bắt buộc đối với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi, trước khi trở thành người làm việc trong các xí nghiệp thủ công, công nghệ hoặc thương nghiệp. Từ năm 1960, Pháp đã tiến hành thành lập hệ thống các trung tâm thông tin hướng học, hướng nghiệp từ Bộ Giáo dục đến khu, tỉnh, huyện và cụm trường.
Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa nền giáo dục. Cải cách giáo dục ở Pháp chú ý đặc biệt chăm lo giảng dạy nghề nghiệp cho học sinh, khắc phục khuynh hướng và quan niệm coi giáo dục nghề nghiệp, hướng nghiệp là một hoạt động giáo dục đứng sau các môn khoa học. Nhà trường ở Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp kiến thức khoa học, tăng tỷ trọng kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hướng nghiệp để giúp cho học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp. Ở Liên Xô (cũ) công tác hướng nghiệp được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như: E.
Nghiên cứu của các tác giả tập trung vào hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, các giá trị nghề mà học sinh quan tâm, đồng thời đưa ra những chỉ dẫn để giúp học sinh chọn nghề tốt hơn. Nhật Bản sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học văn hóa phổ thông với kiến thức và kỹ năng lao động- nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trường trung học vừa học văn hóa phổ thông vừa học các môn kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ… Sau cấp II có đến 94% học sinh vào học cấp III, trong đó 70% học sinh theo học loại trường Phổ thông cơ bản và 30% học sinh theo học hướng học nghề [18] 1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam Nhằm tạo thêm thuận lợi cho học sinh định hướng nghề nghiệp một cách khoa học hiệu quả và chọn trường - ngành thi phù hợp với khả năng của từng học sinh; Từ năm 2002 Bộ Giáo dục đào tạo đã cho phép ứng dụng phần mềm “Hỗ trợ tư vấn hướng học” và “Hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp” thông qua Dự án Trung học phổ thông, đây có thể được gọi bộ công cụ hướng nghiệp đầu tiên ở Việt Nam và đã được sử dụng tại nhiều trường học trong toàn quốc. Bộ công cụ này bao gồm các bài trắc nghiệm về : tính cẩn thận của học sinh; xét đoán tâm lý người đối thoại, 6 Luan van khuôn hình mẫu tiếp diễn (trắc nghiệm về trí tuệ ); tưởng tượng không gian; Danh mục nghề và danh mục khối thi.
Nghiên cứu về công tác hướng nghiệp, từ trước đến nay ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan về vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học sinh như: Đề tài ‘Tìm hiểu động cơ chọn nghề của học sinh Phổ thông trung học” của tác giả Phạm Thị Nguyệt Lãng (1991) nghiên cứu khảo sát 1.803 học sinh lớp 10, 11, 12 ở 12 trường PTTH thuộc các tỉnh thành Hà Nội, TP.HCM và Tây Ninh. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra : 83,25% nữ và 78,41% nam chọn nghề theo hứng thú cá nhân, các yếu tố động cơ thúc đẩy học sinh chọn nghề còn lại là lương cao, để được khen, có vinh quang chiếm tỷ lệ rất thấp. Phân tích kết quả nghiên cứu tác giả nhận định rằng học sinh đã xem xét khả năng của bản thân với yêu cầu của nghề và tỉ lệ nam cao hơn nữ. Tác giả Phan Tố Oanh, với đề tài “Nguyện vọng và nguyên nhân chọn nghề của học sinh trung học” (1994) được thực hiện trên 200 học sinh ở Huế và 300 học sinh ở Hà Nội cho thấy, nguyên nhân học sinh chọn nghề phù hợp với năng lực học tập, nghề nghiệp phù hợp với hứng thú; các nguyên nhân khác như: dễ có khả năng trúng tuyển hay phù hợp với “ mốt” hiện nay được học sinh đánh giá thấp.
Ngoài ra tác giả còn Nghiên cứu nhận thức nghề và dự định chọn nghề của học sinh THPT (1996).3 Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bình Dương Trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đã có một số tác giả nghiên cứu về hoạt động giáo dục hướng nghiệp trên địa bàn tỉnh như đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp Trung học cơ sở và học sinh Trung học phổ thông tỉnh Bình Dương giai đoạn 2010 – 2015” của tác giả Huỳnh Văn Sơn. Tiến hành nghiên cứu đánh giá của học sinh về hiệu quả hướng nghiệp cho học sinh trung học tại tỉnh Bình Dương. Kết quả nghiên cứu được thực hiện dựa trên trên cuộc sát 1.689 học sinh , gồm học sinh THCS (841) và học sinh THPT (848) trong năm học 2010 – 2011. Nhìn chung học sinh thuộc mẫu nghiên cứu hiếm khi hoặc thỉnh thoảng mới được tham gia công tác hướng nghiệp tại nhà trường.
Cả học sinh THCS và THPT đều đánh giá hiệu quả 7 Luan van của công tác hướng nghiệp tại trường chỉ đạt mức “ trung bình” và chưa đáp ứng nguyện vọng của học sinh về một chương trình hướng nghiệp đồng bộ và chuyên sâu. Các hình thức hướng nghiệp chỉ đạt mức trung bình và nổi trội nhất là hình thức : “ Giáo dục hướng nghiệp trên lớp” nhưng điểm trung bình vẫn chưa đạt mức 3. Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng này nhưng nổi bật theo quan điểm của học sinh THPT nguyên nhân khiến hoạt động hướng nghiệp ở trường THPT còn gặp nhiều khó khăn là do trường “ không có nhiều thời gian để tổ chức các hoạt động hướng nghiệp” cũng như : “ Không có thầy cô chuyên trách về công tác hướng nghiệp”. Ngoài ra còn có đề tài: “ Nâng cao chất lượng công tác hướng nghiệp cho học sinh trường THPT nguyễn Trãi, tỉnh Bình Dương” Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hoan, Đại học SPKT Tp.HCM, 2012; tác giả đã đề ra các giải pháp để nâng cao nhận thức của phụ huynh và học sinh về ngành nghề trong xã hội, chú trọng giải pháp “ Đa dạng hóa các hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh” Tóm lại, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra được một số giải pháp về định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông ở một số tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có tỉnh Bình Dương.
Tuy nhiên công tác hoạt động hướng nghiệp cho học sinh ở các trường phổ thông cơ sở hiện nay vẫn còn nhiều bất cập chưa thực sự có hiệu quả. Vì vậy người nghiên cứu sẽ tập trung đi vào tìm hiểu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở bậc học THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.2 SỰ CẦN THIẾT CỦA HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của mình, đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương và quốc gia. Mỗi con người muốn tồn tại và phát triển đều phải có một nghề nghiệp ổn định. Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, cơ hội về việc làm và sự lựa chọn nghề nghiệp đang rộng 8 Luan van mở đối với mọi người.
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất để mọi người lao động phát huy tốt nhất khả năng của mình để có nghề nghiệp và việc làm cho bản thân và phục vụ cho nhu cầu xã hội. Điều này đã quy định rõ trong Bộ luật lao động của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Mọi người có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình” (Điều 20). Lựa chọn nghề nghiệp đúng sẽ là cơ sở cho sự thành đạt trong tương lai. Xã hội có rất nhiều nghề và cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước sẽ có thêm nhiều nghề mới.
Mỗi người có rất nhiều cơ hội để lựa chọn nghề nghiệp. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể lựa chọn ngay nghề nghiệp đúng với khả năng và phù hợp với sở thích của mình. Lúc ban đầu cho rằng đã chọn nghề phù hợp với sở thích của mình, nhưng càng học, càng làm càng cảm thấy khó khăn với bản thân (năng lực, khả năng) hoặc chẳng gây cho người học những hứng thú gì. Điều này cũng giải thích là tại sao nhiều người phải chuyển nghề, chuyển ngành sau một thời gian đã học tập hoặc làm việc.
Theo các chuyên gia tư vấn, tình trạng thanh niên tuy đã rời trường phổ thông nhưng vẫn loay hoay trước các ngả rẽ nghề nghiệp là khá phổ biến.