Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI và Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, định hướng giáo dục Việt Nam chuyển từ tiếp cận nội dung (mục tiêu kiến thức, kỹ năng rời rạc) sang tiếp cận phẩm chất, năng lực người học. Đổi mới kiểm tra, đánh giá là khâu then chốt của quá trình này, đòi hỏi việc chuyển dịch từ đánh giá ghi nhớ máy móc sang đánh giá khả năng vận dụng tri thức vào giải quyết các tình huống thực tiễn.
Cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán giữ vị trí cốt lõi trong chương trình giáo dục tiểu học. Mặc dù kiến thức toán mang tính trừu tượng cao, bản chất môn học gắn liền với đời sống thực tế, tạo nền tảng tư duy và công cụ giải quyết vấn đề cho học sinh trong học tập cũng như sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tiễn, việc xây dựng và sử dụng các công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong môn Toán của giáo viên tiểu học còn nhiều bất cập:
- Giáo viên có xu hướng sử dụng đề kiểm tra có sẵn mà chưa qua kiểm định về độ khó và độ phân biệt phù hợp với đối tượng học sinh cụ thể.
- Nội dung công cụ kiểm tra đánh giá chủ yếu tập trung vào việc tái hiện kiến thức và kỹ năng tính toán thuần túy, chưa đo lường được các thành tố của năng lực giải quyết vấn đề.
- Thiếu các tiêu chí và tiêu chuẩn đánh giá tường minh, đồng thời các văn bản hướng dẫn chuyên môn của ngành chưa cụ thể hóa phương pháp đánh giá năng lực cho từng khối lớp ở cấp tiểu học.
Nhằm giải quyết các khoảng trống thực tiễn đó, tác giả Đỗ Hà Giang thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 3 trong dạy học số học" tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thanh Hưng.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm hai nội dung:
- Tìm phương pháp đánh giá nhằm phát triển và nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 3 thông qua việc vận dụng bộ công cụ đánh giá trong dạy học số học.
- Đề xuất quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 3 trong mạch kiến thức số học.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 3 nội dung:
- 3.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận: Tổng hợp, phân tích các tài liệu liên quan đến việc xây dựng quy trình và bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 3 trong dạy học số học.
- 3.2. Nghiên cứu điều tra thực trạng: Khảo sát thực trạng việc thiết kế và sử dụng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học số học lớp 3; thiết kế bảng hỏi, phiếu điều tra để thu thập dữ liệu và xác định nguyên nhân.
- 3.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm: Thiết kế quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học số học để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp sư phạm đề xuất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Bộ công cụ đánh giá năng lực học sinh.
- Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3 trong dạy học môn Toán (trọng tâm là mạch kiến thức số học) tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Giả thuyết khoa học: Nếu đề xuất được quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 3 trong dạy học số học một cách khoa học thì sẽ góp phần hỗ trợ nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường tiểu học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và quan niệm khoa học
Khóa luận tiếp cận vấn đề dựa trên định hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, trong đó xác định năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là một trong các năng lực cốt lõi chung cần hình thành ở học sinh thông qua toàn bộ các môn học.
Về khái niệm đánh giá, tác giả điểm luận các quan điểm học thuật quốc tế và trong nước: Ralph Tyler (1950) coi đánh giá là quá trình xác định mức độ đạt mục tiêu chương trình; Ulbrich nhấn mạnh hoạt động thu thập minh chứng; Beeby (1997) coi đánh giá là sự phán xét giá trị có hệ thống; Ngô Cương, Trần Bá Hoành, Marger (1993), Nitko và Brookhart (2007) tiếp cận đánh giá như quá trình thu thập thông tin để ra quyết định giáo dục. Khóa luận tiếp thu định nghĩa của Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh: đánh giá là quá trình thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng một cách có hệ thống nhằm hiểu sâu và ra quyết định phù hợp liên quan đến đối tượng đó.
Về khái niệm năng lực, tác giả tổng hợp định nghĩa từ Xavier Roegiers (1996), John Erpenbeck (1998), Weinert (2001), OECD (2002), Puskur (2002), và thống nhất với định nghĩa của Nguyễn Công Khanh: năng lực là khả năng làm chủ hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Về năng lực giải quyết vấn đề, tác giả dựa trên khung đánh giá PISA (2012), định nghĩa của Nguyễn Thị Lan Phương và mô hình 4 bước giải quyết vấn đề của George Polya (tìm hiểu vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm tra). Từ đó, cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học trong khóa luận được xác định gồm 4 thành tố:
- Tìm hiểu, khám phá vấn đề.
- Thiết lập không gian vấn đề.
- Lập kế hoạch, thực hiện giải pháp.
- Đánh giá và phản ánh giải pháp.
Năng lực này được phân thành 3 mức độ biểu hiện:
- Mức 1 (Nhận dạng yếu tố): Học sinh phân tích, nhận biết các thành phần, yếu tố của nhiệm vụ nhưng chưa thực hiện hành động giải quyết.
- Mức 2 (Nhận thức mô hình, cấu trúc, quy trình): Học sinh nhận biết mô hình, cấu trúc nhưng chưa nêu rõ bản chất; mô tả được cách giải quyết bằng lời hoặc hình vẽ ở mức sơ giản; bước đầu biến đổi mô hình cho tình huống tương tự.
- Mức 3 (Vận dụng quy trình, nguyên tắc để thực hiện giải pháp): Học sinh xác định quy trình, nguyên tắc làm cơ sở giải pháp; sử dụng thành thạo quy trình quen thuộc và bước đầu mở rộng sang các tình huống ít quen thuộc.
Bên cạnh đó, cơ sở lý luận của đề tài gắn liền với đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 3:
- Tri giác: Mang tính đại thể, dễ bị chi phối bởi yếu tố trực quan, mới lạ, giàu xúc cảm; đang trong quá trình chuyển sang tri giác có mục đích và chọn lọc hơn.
- Chú ý: Chú ý không chủ định còn chiếm ưu thế, trường chú ý hẹp, dễ phân tán; khả năng chú ý có chủ định bắt đầu hình thành.
- Trí nhớ: Trí nhớ trực quan - hình tượng và máy móc chiếm ưu thế so với trí nhớ logic và ngôn ngữ; giai đoạn lớp 3 bắt đầu phát triển ghi nhớ có chủ định gắn với các quy tắc, khái niệm trừu tượng.
- Tư duy: Bắt đầu chuyển từ tư duy trực quan cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái quát hóa sơ đẳng; đã biết thực hiện thao tác so sánh, phân tích ở mức độ đơn giản.
- Tưởng tượng: Phong phú, kết hợp giữa yếu tố phóng khoáng và hiện thực; học sinh biết cải biến hình tượng cũ để tạo hình tượng mới.
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ nói thành thạo, ngôn ngữ viết dần hoàn thiện về ngữ pháp và chính tả; vốn từ mở rộng nhưng việc hiểu nghĩa bóng còn hạn chế.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận phối hợp 4 phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về giáo dục; sách báo, tài liệu chuyên khảo trong và ngoài nước về năng lực giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học số học và lý luận kiểm tra đánh giá.
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng phiếu hỏi dành cho học sinh lớp 3 nhằm khảo sát thực trạng nhận thức, mức độ giải quyết vấn đề toán học và thực tế sử dụng các công cụ đánh giá tại trường tiểu học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học và thực nghiệm các công cụ đánh giá đã thiết kế tại các trường tiểu học thuộc thành phố Đà Nẵng để kiểm định giả thuyết khoa học.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát và kết quả kiểm tra; tính toán các thông số đo lường chất lượng câu hỏi kiểm tra như độ khó ($P$), độ phân biệt ($D$), độ tin cậy và độ giá trị.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 3 trong dạy học số học
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu và thực trạng dạy học đánh giá:
- Lịch sử nghiên cứu: Các nghiên cứu quốc tế từ thập niên 1960 và trào lưu dạy học nêu vấn đề (đặc biệt tại Ba Lan) đã đặt nền móng cho lí luận giải quyết vấn đề. Mô hình 4 bước của Polya và các khung đánh giá hiện đại đã phân tích cấu trúc năng lực này. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học trong môn Toán, đặc biệt là việc xây dựng bộ công cụ đánh giá cụ thể trong thực tế dạy học, còn ít được chú trọng.
- Lý luận về công cụ đánh giá: Khóa luận phân tích hai hình thức công cụ chính là bài trắc nghiệm khách quan (dẫn theo Grolund, 1981, gồm các dạng: đúng - sai, điền khuyết, ghép hợp, đa lựa chọn) và bài tự luận (tự luận ngắn và tự luận dài), cùng các công cụ bổ trợ như bảng kiểm, rubric.
- Cơ sở thực tiễn: Khảo sát cho thấy giáo viên tiểu học đã bước đầu nhận thức được vai trò của đánh giá năng lực giải quyết vấn đề. Tuy vậy, các hạn chế nổi cộm gồm:
- Lạm dụng các bộ đề in sẵn, thiếu sự rà soát tính tương thích với chương trình và đối tượng học sinh, vi phạm nguyên tắc về độ khó và độ phân biệt.
- Đề kiểm tra do giáo viên tự biên soạn còn nặng về kiểm tra ghi nhớ công thức và tính toán máy móc.
- Thiếu hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng để nhận định từng mức độ năng lực.
- Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ thói quen dạy học truyền thụ một chiều, đánh giá vì mục đích cho điểm và xếp loại học lực để lên lớp, chưa coi đánh giá là công cụ cung cấp thông tin phản hồi nhằm điều chỉnh hoạt động dạy và học.
Chương 2: Quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong môn Toán ở Tiểu học
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, đưa ra 4 nguyên tắc, quy trình 7 bước và ví dụ minh họa chi tiết.
Bốn nguyên tắc xây dựng bộ công cụ:
- Đảm bảo tính mục đích: Công cụ phải bám sát mục tiêu đánh giá năng lực giải quyết vấn đề, thu thập đúng các minh chứng phục vụ mục đích đã xác định.
- Đảm bảo tính hiệu quả: Công cụ phải có khả năng phân hóa rõ ràng học sinh ở các mức năng lực khác nhau, tránh cào bằng.
- Đảm bảo tính giáo dục: Nội dung đánh giá cần lồng ghép các tình huống thực tiễn có ý nghĩa (bảo vệ môi trường, văn hóa ứng xử), giúp học sinh nhận thức được giá trị thực tế của toán học.
- Đảm bảo tính phát triển: Bộ công cụ không chỉ dừng lại ở việc phân loại mà phải kích thích tư duy, tạo hứng thú và hỗ trợ học sinh tự điều chỉnh cách học.
Quy trình xây dựng bộ công cụ gồm 7 bước:
- Bước 1: Xác định mục đích xây dựng bộ công cụ: Xác định rõ yêu cầu thu thập minh chứng đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học số học lớp 3.
- Bước 2: Xác định đối tượng đánh giá: Học sinh lớp 3 cấp tiểu học.
- Bước 3: Xác định nội dung, địa điểm, thời gian đánh giá: Lựa chọn mạch nội dung kiến thức số học, phòng học thực tế và mốc thời gian phù hợp (ví dụ: Học kì II năm học 2022–2023).
- Bước 4: Xác định các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá: Xây dựng bảng ma trận tiêu chí dựa trên 4 thành tố và 3 mức độ của năng lực giải quyết vấn đề.
- Bước 5: Thiết kế nội dung công cụ đánh giá: Lựa chọn dạng bài kiểm tra (kết hợp trắc nghiệm khách quan và tự luận), xây dựng ma trận và soạn thảo hệ thống câu hỏi tương ứng với các mức độ.
- Bước 6: Thử nghiệm công cụ đánh giá: Tiến hành cho học sinh làm bài kiểm tra thử nghiệm, lập bảng tổng hợp điểm số và câu đúng của từng học sinh.
- Bước 7: Chỉnh sửa và hoàn thiện công cụ: Phân tích các thông số định lượng của bài kiểm tra để điều chỉnh câu hỏi trước khi sử dụng chính thức.
Để minh họa quy trình, tác giả phân tích cấu trúc môn Toán lớp 3 theo bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống" gồm 16 chủ đề (Học kì I: 7 chủ đề, 44 bài, 90 tiết; Học kì II: 9 chủ đề, 37 bài, 85 tiết). Tác giả thiết kế minh họa một công cụ cho Bài 71: Chia số có năm chữ số cho số có một chữ số (Toán 3, Tập 2, trang 97) với thời lượng 25 phút.
| Thành tố năng lực (Tiêu chuẩn) |
Mức 1 |
Mức 2 |
Mức 3 |
| 1. Khám phá vấn đề |
- Nhận biết một phần hoặc hiểu chưa rõ ràng về vấn đề. - Chưa biết phát biểu lại hoặc chỉ phát biểu được một phần theo ngôn ngữ đề bài. |
- Hiểu vấn đề nhưng chưa phân tích được rõ ràng. - Phát biểu được vấn đề nhưng theo ngôn ngữ của đề bài. |
- Hiểu và phân tích vấn đề rõ ràng. - Phát biểu lại vấn đề đầy đủ, logic bằng ngôn ngữ của bản thân. |
| 2. Thiết lập không gian vấn đề |
- Bước đầu biết thu thập thông tin nhưng thu được ít dữ liệu cần thiết. - Đề xuất giải pháp hạn chế, không rõ ràng. |
- Thu thập được thông tin cần thiết nhưng chưa hiểu hết giá trị của thông tin. - Đề xuất được giải pháp nhưng chưa đầy đủ. |
- Thu thập đầy đủ dữ liệu, hiểu rõ giá trị thông tin và biết cách sử dụng. - Đề xuất giải pháp hoàn chỉnh, có thể mô tả bằng sơ đồ tư duy hoặc mô hình. |
| 3. Lập kế hoạch, thực hiện giải pháp |
- Mất nhiều thời gian lập kế hoạch, các bước chưa rõ ràng. - Chưa thực hiện được hoặc chỉ làm được một phần kế hoạch. |
- Biết lập kế hoạch giải quyết nhưng nội dung chưa đầy đủ. - Thực hiện gần đủ các bước nhưng trình bày còn thiếu logic. |
- Xây dựng các bước giải quyết nhanh, chi tiết, logic. - Thực hiện đầy đủ, chính xác, trình bày ngắn gọn, khoa học. |
| 4. Đánh giá và phản ánh giải pháp |
- Tự nhận xét giải pháp nhưng chưa chính xác. - Không tìm được giải pháp mới. |
- Biết nhận xét nhưng chưa toàn diện; chỉ rút được kinh nghiệm cho tình huống quen thuộc. - Tìm được giải pháp mới nhưng chưa phù hợp. |
- Nhận xét, đánh giá toàn diện; vận dụng được kinh nghiệm vào tình huống mới. - Tìm được giải pháp mới hợp lý. |
Ma trận đề kiểm tra minh họa cho Bài 71 được thiết kế kết hợp hình thức trắc nghiệm (TN) và tự luận (TL):
- Mức 1 (1 câu TL - Câu 1: Tính nhẩm 4 phép tính chia tròn nghìn).
- Mức 2 (1 câu TL - Câu 2: Đặt tính rồi tính 2 phép chia; 1 câu TN - Câu 3: Khoanh vào phép tính có kết quả lớn nhất).
- Mức 3 (1 câu TL - Câu 4: Bài toán đố thực tế yêu cầu đóng gói 15 050 kg hải sản đông lạnh vào các túi loại 3 kg, tính số túi ít nhất cần dùng).
Phương pháp chuẩn hóa và phân tích câu trắc nghiệm tại Bước 7 sử dụng các công thức:
-
Độ khó của câu trắc nghiệm ($P$):
$$P = \frac{N_c + N_t}{2n}$$
Trong đó: $N_c$ là số học sinh làm đúng ở nhóm điểm cao; $N_t$ là số học sinh làm đúng ở nhóm điểm thấp; $n$ là số học sinh của một nhóm (quy ước bằng 27% tổng số học sinh tham gia thử nghiệm ở mỗi nhóm cao và thấp).
Thang đánh giá: $P < 0,25$ (câu quá khó); $P > 0,75$ (câu quá dễ); $0,25 \le P \le 0,75$ (câu đạt yêu cầu).
-
Độ phân biệt của câu trắc nghiệm ($D$):
$$D = \frac{N_c - N_t}{n}$$
Thang đánh giá: $D < 0,19$ (độ phân biệt kém, cần sửa hoặc loại bỏ); $0,20 \le D \le 0,29$ (độ phân biệt trung bình, cần hoàn thiện); $0,30 \le D \le 0,39$ (độ phân biệt khá tốt); $D \ge 0,40$ (độ phân biệt rất tốt).
-
Độ khó của toàn bài kiểm tra: Được tính bằng tỉ số giữa điểm trung bình thực tế với tổng số câu hỏi, đối chiếu với công thức độ khó vừa phải theo lý thuyết:
$$\text{Độ khó vừa phải (LT)} = \frac{TBLT}{K} \times 100%$$
Trong đó: $TBLT = \frac{K + T}{2}$ ($K$ là tổng số câu trắc nghiệm, $T$ là điểm số có được do xác suất may rủi).
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của quy trình và công cụ đánh giá đã đề xuất:
- Mục đích thực nghiệm: Khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học; xác định tính khả thi, độ tin cậy và hiệu quả phân hóa năng lực giải quyết vấn đề của bộ công cụ đã xây dựng.
- Nội dung và tổ chức thực nghiệm: Triển khai bài kiểm tra thực nghiệm trên các lớp học sinh khối 3 tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong học kỳ II năm học 2022–2023. Tác giả tiến hành tổ chức kiểm tra thử nghiệm, lập bảng thống kê số câu đúng của từng học sinh, tính toán các hệ số $P$ và $D$ theo công thức thống kê toán học để thẩm định chất lượng các câu hỏi.
- Kết luận chương 3: Việc vận dụng các công cụ đánh giá theo quy trình 7 bước hỗ trợ giáo viên xác định chính xác mức độ năng lực của học sinh theo từng tiêu chí, từ đó có căn cứ khoa học để điều chỉnh kế hoạch giảng dạy.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh tiểu học, chỉ ra sự tương thích giữa mô hình 4 bước của George Polya với các đặc điểm tâm - sinh lý nhận thức của học sinh lớp 3 (sự chuyển tiếp từ tư duy trực quan sang trừu tượng sơ đẳng).
- Xây dựng khung ma trận tiêu chí đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong môn Toán cấp tiểu học gồm 4 tiêu chuẩn (thành tố) và 12 chỉ báo hành vi tương ứng với 3 mức độ phát triển nhận thức.
- Đề xuất quy trình 7 bước khoa học, rõ ràng và có tính ứng dụng cho việc xây dựng bộ công cụ kiểm tra đánh giá định kỳ hoặc thường xuyên trong mạch kiến thức số học.
- Xây dựng đề kiểm tra minh họa hoàn chỉnh cho Bài 71 Toán lớp 3 kèm theo hệ thống tiêu chí định lượng (công thức tính độ khó $P$, độ phân biệt $D$, độ khó vừa phải theo lý thuyết $TBLT$) giúp giáo viên kiểm định câu hỏi theo chuẩn thống kê trắc nghiệm cổ điển.
Đề xuất và kiến nghị của tác giả
- Đối với giáo viên tiểu học: Cần nâng cao năng lực đo lường và đánh giá giáo dục; chuyển dịch trọng tâm kiểm tra từ tái hiện công thức tính toán sang đánh giá khả năng hiểu bản chất và xử lý tình huống thực tế; áp dụng quy trình kiểm tra thử nghiệm và phân tích câu hỏi trước khi sử dụng chính thức.
- Đối với tổ chuyên môn và nhà trường: Cần xây dựng ngân hàng câu hỏi đánh giá năng lực bám sát các mức độ của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, tổ chức tập huấn kỹ thuật biên soạn đề và phương pháp phân tích chỉ số thống kê bài kiểm tra cho giáo viên.
Đóng góp so với các nghiên cứu trước
Khóa luận đã khắc phục hạn chế của các tài liệu lí luận chung khi chuyển hóa mô hình giải quyết vấn đề của thế giới (Polya, PISA) thành hệ thống tiêu chuẩn - tiêu chí thao tác hóa cụ thể cho đối tượng học sinh lớp 3. Đề tài không dừng lại ở mức mô tả định tính mà cung cấp công cụ định lượng rõ ràng giúp giáo viên tự thẩm định chất lượng bài kiểm tra thông qua các chỉ số thống kê toán học xác thực.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu của tác giả:
- Về nội dung: Bộ công cụ minh họa mới chỉ tập trung vào một bài học cụ thể thuộc mạch kiến thức Số và phép tính (Bài 71, sách Kết nối tri thức với cuộc sống), chưa bao quát toàn bộ các mạch kiến thức khác của chương trình Toán lớp 3 như Hình học và Đo lường, Một số yếu tố Thống kê và Xác suất.
- Về phạm vi thực nghiệm: Dữ liệu thực nghiệm sư phạm chỉ được triển khai giới hạn tại một số lớp học sinh lớp 3 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chưa khảo sát so sánh trên nhiều địa bàn trường học có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
- Hướng mở rộng: Nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện và chuẩn hóa bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho toàn bộ các chủ đề trong chương trình Toán 3; mở rộng áp dụng và kiểm chứng trên các bộ sách giáo khoa khác nhau hiện hành (như Chân trời sáng tạo, Cánh diều); mở rộng quy trình đánh giá cho các khối lớp khác ở cấp tiểu học (lớp 4, lớp 5).
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Toán: Tham khảo phương pháp xây dựng khóa luận tốt nghiệp thuộc chuyên ngành lý luận và phương pháp dạy học tiểu học, đặc biệt là kỹ thuật thiết kế rubric đánh giá năng lực và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm.
- Giáo viên tiểu học đang giảng dạy lớp 3: Có thể sử dụng trực tiếp khung ma trận tiêu chuẩn, tiêu chí 4 thành tố x 3 mức độ tại Chương 2 để làm căn cứ biên soạn đề kiểm tra định kỳ, đề kiểm tra thường xuyên theo định hướng phát triển năng lực môn Toán.
- Cán bộ quản lý chuyên môn tiểu học: Sử dụng quy trình 7 bước và hệ thống công thức phân tích độ khó ($P$), độ phân biệt ($D$) làm tài liệu tham khảo trong việc thẩm định chất lượng đề kiểm tra và tập huấn chuyên môn đổi mới đánh giá học sinh tiểu học.
Câu hỏi thường gặp
1. Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề của học sinh lớp 3 trong khóa luận gồm những thành tố nào?
Cấu trúc gồm 4 thành tố: (1) Khám phá vấn đề; (2) Thiết lập không gian vấn đề; (3) Lập kế hoạch, thực hiện giải pháp; (4) Đánh giá và phản ánh giải pháp.
2. Quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá đề xuất gồm bao nhiêu bước?
Quy trình gồm 7 bước tuần tự: Bước 1: Xác định mục đích; Bước 2: Xác định đối tượng; Bước 3: Xác định nội dung, địa điểm, thời gian; Bước 4: Xác định tiêu chuẩn, tiêu chí; Bước 5: Thiết kế nội dung công cụ; Bước 6: Thử nghiệm công cụ; Bước 7: Chỉnh sửa và hoàn thiện công cụ.
3. Tiêu chuẩn đánh giá độ khó ($P$) và độ phân biệt ($D$) của câu trắc nghiệm được tính toán như thế nào?
Độ khó được tính bằng $P = \frac{N_c + N_t}{2n}$ (với $n$ là 27% học sinh ở mỗi nhóm cao và thấp); giá trị từ $0,25$ đến $0,75$ là chấp nhận được. Độ phân biệt tính bằng $D = \frac{N_c - N_t}{n}$; câu hỏi có $D \ge 0,40$ đạt độ phân biệt rất tốt, từ $0,30$ đến $0,39$ là khá tốt, từ $0,20$ đến $0,29$ là trung bình, và $D < 0,19$ là kém (cần loại bỏ hoặc sửa đổi).
4. Ví dụ minh họa của khóa luận được thiết kế cho bài học nào trong chương trình Toán 3?
Ví dụ minh họa được thiết kế cho Bài 71: Chia số có năm chữ số cho số có một chữ số (SGK Toán 3 tập 2, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 97) với thời gian làm bài 25 phút gồm 4 câu hỏi bao quát từ Mức 1 đến Mức 3.
5. Khóa luận tiếp thu định nghĩa "đánh giá" và "năng lực" từ các tác giả chính nào?
Tác giả tiếp thu định nghĩa đánh giá của Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (coi đánh giá là quá trình thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin có hệ thống để ra quyết định), đồng thời tiếp thu định nghĩa năng lực của Nguyễn Công Khanh (khả năng làm chủ hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện thành công nhiệm vụ).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đỗ Hà Giang đã giải quyết một vấn đề cấp thiết trong thực tiễn dạy học tiểu học khi cụ thể hóa đường lối đổi mới đánh giá của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 thành quy trình 7 bước khoa học và khả thi. Đề tài đã xây dựng thành công khung tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá năng lực giải quyết vấn đề gồm 4 thành tố gắn với 3 mức độ nhận thức cụ thể trong mạch số học lớp 3. Kết hợp chặt chẽ giữa lí luận giáo dục học và các công thức kiểm định trắc nghiệm cổ điển, công trình cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng rõ ràng cho sinh viên sư phạm và giáo viên tiểu học.