MỞ ĐẦU. Lí do chọn đề tài. Phƣơng pháp nghiên cứu. Đóng góp của luận án.
Kết cấu của luận án. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN. Một số quan điểm cơ bản của ngữ pháp chức năng – hệ thống. Phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán.
Diễn ngôn báo chí, ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ bình luận. Giao tiếp trong báo chí và diễn ngôn báo chí. Đặc điểm của ngôn ngữ báo chí. Bình luận và ngôn ngữ bình luận trên báo chí.
39 CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG CÁC. 41 VĂN BẢN BÌNH LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG TƢ TƢỞNG 2. Các phƣơng thức thể hiện chức năng tƣ tƣởng kinh nghiệm trong văn bản bình luận. Danh hoá trong văn bản bình luận.
Chu cảnh và chuyển tác chu cảnh trong văn bản bình luận báo in tiếng Việt. Các phƣơng thức thể hiện chức năng tƣ tƣởng lôgíc trong văn bản bình luận báo in tiếng Việt. Các quan hệ đẳng kết. Các quan hệ phụ thuộc.
Lập luận trong bài bình luận báo in tiếng Việt. 86 CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG CÁC. 88 VĂN BẢN BÌNH LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG LIÊN NHÂN 3. Tình thái trong văn bản bình luận.
Tình thái trong tiếng Việt. Tình thái trong văn bản bình luận báo in tiếng Việt. Yếu tố bình luận trong văn bản bình luận báo in tiếng Việt. Các biểu thức quy chiếu biểu hiện nghĩa liên nhân.
114 CHƢƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG CÁC. 115 VĂN BẢN BÌNH LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG VĂN BẢN 4. Về cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô. Cấu trúc vĩ mô của văn bản bình luận.
Cấu trúc vi mô của văn bản bình luận. Các phương tiện liên kết trong văn bản bình luận. 146 LIÊN QUAN ĐẾN. Lí do chọn đề tài Từ khi ra đời, các phƣơng tiện truyền thông, mà đặc biệt là báo chí, đã có vai trò hết sức to lớn trong đời sống xã hội.
Nhờ khả năng tạo dƣ luận xã hội sâu rộng, chúng có ảnh hƣởng lan tỏa tới mọi lĩnh vực, tác động mạnh mẽ đến nhận thức của con ngƣời, trên cơ sở đó, thay đổi hành vi và tƣ tƣởng của họ. Ở mỗi quốc gia, báo chí – truyền thông không chỉ là kênh giao tiếp quan trọng hàng đầu, là nhân tố kích thích sự phát triển, mà còn là phƣơng tiện quản lí, giám sát, là công cụ thực hiện các dịch vụ xã hội. Hiện nay, do sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, báo chí – truyền thông đã có những bƣớc tiến vƣợt bậc, đạt tới mức bùng nổ về mọi phƣơng diện: các loại hình truyền thông đƣợc đa dạng hóa, báo mạng điện tử tuy mới xuất hiện nhƣng với các tiện ích đặc biệt của mình, có sức lan tỏa mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vị thế vững chắc trong môi trƣờng truyền thông; số lƣợng các cơ quan báo chí – truyền thông, số đầu báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, nhà xuất bản, nhà in sách báo, ấn phẩm, chƣơng trình và cùng với đó là đội ngũ các nhà truyền thông tăng nhanh; chất lƣợng nội dung, hình thức, công nghệ in ấn, truyền tải thông tin không ngừng đƣợc cải thiện. Chính nhờ sự bùng nổ ấy, báo chí – truyền thông đang góp phần xóa đi các rào cản về địa lí giữa các quốc gia, mang đến cho thế giới một diện mạo mới.
Giờ đây, với các phƣơng tiện truyền thông hiện đại, ngƣời ta có thể theo dõi các sự kiện, cập nhật thông tin, thƣởng thức và tiếp thu các thành tựu văn hoá ở mọi nơi trên thế giới một cách nhanh chóng và thuận tiện. Điều này sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của mọi lĩnh vực, nhất là kinh tế, khoa học – kĩ thuật và văn hoá của mỗi quốc gia. Và đây cũng chính là điều kiện hết sức thuận lợi thúc đẩy chính báo chí – truyền thông phát triển lên tầm cao mới trên cơ sở học hỏi, giao lƣu, mở rộng hợp tác quốc tế. Trong sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của các thể loại báo chí, bình luận là một trong những thể loại quan trọng và tiêu biểu.
Nếu nhƣ các thể loại: tin tức, 2 phóng sự, bút kí, ghi chép, v. chủ yếu là nêu sự kiện, phản ánh thông tin từ thực tế hiện trƣờng của vụ việc thì bình luận báo chí lại thể hiện thái độ rõ ràng trong nội dung thông tin, bày tỏ chính kiến, quan điểm tƣ tƣởng chính trị của ngƣời viết đối với những vấn đề thời sự thiết yếu. Từ đó, bình luận báo chí góp phần giải thích, phân tích, tổng hợp để đem đến cho ngƣời đọc, ngƣời nghe, ngƣời xem một nhận thức đúng đắn về vấn đề họ đang quan tâm. Bình luận, xét về số lƣợng, chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong một tờ báo nhƣng lại đƣợc coi là “linh hồn” của tờ báo, và ở một mức độ nào đó có thể tạo nên bản sắc của cả một tờ báo, ví dụ chuyên mục “Bình luận”, “Câu chuyện quốc tế” của báo Quân đội nhân dân; “Sự kiện và Bình luận” của báo Lao Động; “Cùng suy ngẫm”, “Bình luận” của báo Nhân dân; “ ” báo , “Thời sự và suy nghĩ” của báo Tuổi trẻ TP.
Hồ Chí Minh v. Văn bản bình luận xuất hiện khá nhiều, có mặt ở tất cả loại hình báo chí: phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử và báo in. Tuy nhiên, do đặc điểm của báo in là ngƣời đọc có thể chủ động về thời gian cũng nhƣ phƣơng pháp đọc, nên độc giả có thể vừa đọc, vừa nghiền ngẫm về những vấn đề đƣợc nêu ra, cũng nhƣ những suy nghĩ, thái độ, lập trƣờng, quan điểm của tác giả; từ đó có thể tìm đƣợc tiếng nói chung, dễ dàng tiếp nhận những thông điệp mà tác giả muốn chuyển tải. Thông tin trên báo in có chiều sâu, tính phổ cập cao, đảm bảo tính chính xác mà các loại hình khác khó có thể thay thế đƣợc.
Báo in giúp ngƣời đọc biết và hiểu rất rõ sự kiện. Báo in có thể làm tăng khả năng ghi nhớ, thấu hiểu vấn đề một cách sâu sắc thông qua các phân tích, lập luận trên nhiều bình diện. Vì vậy, có thể nói bình luận thực sự phát huy đƣợc hiệu quả trên báo in. Từ góc nhìn của ngôn ngữ học thì bình luận là thể loại diễn ngôn có những đặc thù riêng, cần nghiên cứu một cách thấu đáo.
Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu diễn ngôn bình luậ học. Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ bình luận, theo chúng tôi, là việc làm cần thiết có ý nghĩa đáng kể về cả mặt lí luận và thực tiễn. Vì những lí do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn Ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt hiện nay làm đề tài nghiên cứu cho luận án này. Tổng quan tình hình 2.
Trên thế giới 50 và 60 ở (textual (nhƣ văn bản luật, báo chí,. Ở Việt Nam Ở Việ ệt : “ ” li [90 [82], và các công trình: (1998); Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn (2002); Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (2009) 4 [4], [5], [10]. Trên cơ sở của ngôn ngữ học chức năng, tác giả Diệp Quang Ban đã coi mạch lạc là một vấn đề cốt yếu của lí luận phân tích diễn ngôn. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp, trong , đã dành một chƣơng để ngôn” [37, tr.
p p và chức năng. u về trong công trình Phân tích diễn ngôn một số vấn đề lí luận và phương pháp [52]. Tiếp đến, Nguyễn Hoà nghiên cứu về phân tích diễn ngôn phê phán. Theo ông, trên ,p – , [8, tr.
Để thấy rõ những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu về ngôn ngữ bình luận, chúng tôi sẽ trình bày một cách tổng quát về việc nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nói chung ở Việt Nam. Ở Việt Nam đã có nhiều các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí. Các công trình này đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau, theo các hƣớng khác nhau, song, có thể tóm lại thành 2 nhóm nghiên cứu sau: Thứ nhất là nhóm tác giả đề cập tới báo chí một cách chung chung, khái quát trên diện rộng, lƣớt qua các vấn đề nhƣng không đi sâu vào một vấn đề nào cụ thể (ngôn ngữ trên một dạng báo cụ thể: báo in, báo điện tử, …), nhƣ: Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí [1], Ngôn ngữ báo chí [44],… Chẳng hạn, trong giáo trình Ngôn ngữ báo chí, tác giả Vũ Quang Hào nêu những vấn đề cơ bản nhất của ngôn ngữ báo chí gồm các nội dung nhƣ: ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí, ngôn ngữ các phong cách báo chí, ngôn ngữ của tên riêng trên báo chí, ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học, danh pháp khoa học, kí hiệu khoa học, … đƣợc tác giả trình bày và lí giải một cách cô đọng, khoa học. Thứ hai là nhóm tập trung nghiên cứu ngôn ngữ theo hƣớng chuyên sâu vào một nội dung, một khía cạnh cụ thể (ngôn ngữ tít báo, ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình, thuật ngữ trên báo chí, …).
Ngoài ra, cũng có thể xem xét ngôn ngữ báo chí trên các bình diện khác nhƣ: các bình diện ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ, cấp độ ngôn ngữ, … 6 Xét trên bình diện ngôn ngữ, báo chí đƣợc quan tâm trên mọi phƣơng diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng với mức độ nhiều - ít, nông - sâu khác nhau. Tuỳ đặc trƣng của mỗi thể loại báo mà ngƣời ta xem xét báo chí ở bình diện ngôn ngữ này nổi trội hơn bình diện ngôn ngữ khác. Chẳng hạn, đối với thể loại báo hình, báo nói, do âm thanh (tiếng nói) quan trọng nên nó đƣợc chú ý nhiều hơn về mặt ngữ âm. Thể loại báo viết thì đã đƣợc nhiều tác giả tập trung nghiên cứu ở các bình diện ngôn ngữ.
Đứng trên bình diện này để nhìn lại những nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí thì thấy: Về mặt từ vựng, các nghiên cứu báo chí tập trung vào việc sử dụng từ ngữ trên báo chí sao cho chuẩn, cho hay.