Chương I Luật BVMT 2014 gồm 07 điều liên quan đến phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, nguyên tắc bảo vệ môi trường, chính sách của nhà nước về bảo vệ môi trường, những hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích và những hành vi bị nghiêm cam. Luật BVMT 2014 đã liệt kê rõ hơn phạm vi điều chỉnh (về đối tượng phải bảo vệ môi trường) của Luật BVMT so với Luật BVMT 2005 khi bổ sung quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nhóm đối tượng “cơ quan” trong bảo vệ môi trường. Luật BVMT 2014 đã mở rộng phạm vi không gian áp dụng của Luật BVMT, không chỉ trên “lãnh thổ” đất liền như Luật BVMT 2005 mà khái niệm “lãnh thổ” được giải thích là “bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Bên cạnh những từ ngữ đã được giải thích trong Luật BVMT 2005, Luật BVMT 2014 có giải thích thêm một số từ ngữ gồm: Tiêu chuẩn môi trường, Sức khỏe môi trường, Công nghiệp môi trường, Kiểm soát ô nhiễm, Hồ sơ môi trường, Quy hoạch bảo vệ môi trường, Hạ tang kỹ thuật bao vệ môi trường, Ung phó với biên đôi khí hậu; Tin chỉ các-bon, An ninh môi trường.
14 Thông qua việc bổ sung việc giải thích các từ ngữ moi có thé thấy Luật BVMT 2014 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh hơn so với Luật BVMT 2005 (it nhất) đối với các lĩnh vực Quy hoạch bảo vệ môi trường và Ứng phó với biến đổi khí hậu. Một điểm đáng chú ý là Điều 3 khoản 1 Luật BVMT 2014 đã giải thích rõ hon ban chất của môi trường khi giải thích khái niệm môi trường: “Méi /rường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. Luật BVMT 2014 đã chỉ rõ, môi trường là một “hệ thông” và do đó, giữa các yếu tố cầu thành nên môi trường có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau, tac động chỉ phối lẫn nhau theo các quy luật nhất định dé trở thành một chỉnh thé. Từ nhận thức môi trường là một hệ thống thống nhất, khi xây dựng các quy định của Luật BVMT 2014, các nhà làm luật cũng phải xem xét các tác động qua lại giữa các thành phần môi trường.
Luật BVMT 2014 cũng giải thích rõ hơn hai khái niệm: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường” và “Tiêu chuẩn môi trường” so với Luật BVMT 2005. Tương tự như vậy, khái niệm phế liệu cũng được làm rõ hơn. Tuy nhiên, khái niệm ô nhiễm môi trường theo Luật BVMT 2014 lại được giải thích một cách khó hiểu hơn Luật BVMT 2005. Khoản 8 Điều 3 Luật BVMT 2014 giải thích: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phan môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”.
Với quy định này, rất khó áp dụng bởi vì xác định biến đổi của thành phần môi trường “không phù hợp quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường” đòi hỏi phải thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện: vừa không phù hợp quy chuẩn, vừa không phù hop tiêu chuẩn môi trường, trong khi đó quy chuẩn mang tính bắt buộc áp dụng còn tiêu chuẩn lại mang tính thự nguyện áp dụng. Do đó, ÔNMT có lẽ chỉ cần không thỏa mãn 1 điều kiện là “không phù hợp quy chuẩn kỹ thuật môi trường” là đủ. Còn tiêu chuẩn không bắt buộc áp dụng nên chỉ khi nào có quy định tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng thi mới cần thỏa mãn điều kiện vi phạm tiêu chuẩn (không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường). 15 Với mục đích xây dựng Luật Bảo vệ môi trường 2014, như đã trình bày ở trên, Luật BVMT 2014 cũng cần bổ sung các nguyên tắc bảo vệ môi trường để đạt được các mục đích “mới” này.
Luật BVMT 2014 đã bé sung mot SỐ nguyên tắc và nội dung mới của nguyên tắc BVMT tại Điều 4, gồm: Luật BVMT 2014 đã gan van đề BVMT với việc bảo đảm quyền trẻ em và BVMT với mục đích bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành. Việc xác định “Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với. bảo đảm quyền trẻ em” đã thể hiện tư tưởng BVMT không chỉ nhằm bảo đảm cho bảo vệ chất lượng môi trường sống, bảo đảm cho sự phát triển của thế hệ hiện tại mà còn phải bảo đảm chất lượng môi trường sống và sự phát triển bền vững cho thế hệ tương lai. Việc xác định nguyên tắc “Bảo vệ môi trường.
để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành” nhằm bảo đảm thé chế quyền con người đã được ghi nhận trong Hiếp pháp 2013 và tư tưởng tat cả vi con người của hiện tại và tương lai. Luật BVMT 2014 đã gắn vấn đề BVMT với việc bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia khi quy định: “bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyên, an ninh quốc gia”. Luật BVMT 2014 bổ sung nguyên tắc ưu tiên một số hoạt động BVMT khi quy định tại Điều 4 khoản 3 và khoản 6: “Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải” và “ưu tiên phòng ngừa 6 nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường”. Mặc dù Điều 4 khoản 3 Luật BVMT 2014 không quy định ưu tiên giải quyết van đề “sử dụng hợp ly tài nguyên, giảm thiêu chat thải”.
Tuy nhiên, vấn đề này được đề cập là một nguyên tắc độc lập cho thấy tầm quan trọng và “mức ưu tiên” mà Luật BVMT 2014 cần giải quyết so với các hoạt động BVMT khác. Luật BVMT 2014 đã xác định nguyên tắc “người nào được hưởng lợi từ môi trường phải trả tiền” khi quy định tai Điều 4 khoản 7: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường”. Như vậy, pháp luật BVMT không chỉ “thuần túy” sử dụng công cụ hành chính, với tư cách sử dụng quyền 16 lực nhà nước, trong BVMT mà đã từng bước sử dụng sức mạnh của nên kinh tế thị trường, sử dụng lợi ích kinh tế để định hướng hành vi của tô chức, cá nhân. Mặc dù là một nguyên tắc được kế thừa từ Luật BVMT 2005 nhưng theo quan điểm của tác giả thì nội dung được quy định tại Điều 4 khoản 8 Luật BVMT 2014 “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cô và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật” không phải là một nguyên tắc BVMT mà là một quy định cụ thê.
Với mục đích cập nhật, cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách mới của Đảng đã được nêu tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đặc biệt là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến déi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường khi xây dựng Luật BVMT 2014 nên các chính sách của Nhà nước trong BVMT (Điều 5) cũng thé hiện các chính sách mới của Đảng. Các chính sách mới được đề cập gồm: “Bảo ton đa dang sinh học; bồ trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách với ty lệ tăng dan theo tăng trưởng chung; Gan kết các hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên với ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường”. Một điểm đáng chú ý là từ chính sách “bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hằng năm” (Luật BVMT 2005) đã hình thành chính sách “bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách với tỷ lệ tăng dần theo tăng trưởng chung”. Chính sách này đã thé hiện rõ hơn việc thể hiện quan điểm phát triển bền vững trong các chính sách của Nhà nước.
So với các hoạt động BVMT được khuyến khích của Luật BVMT 2005, Luật BVMT 2014 chỉ bé sung một hoạt động xuất hiện nhu cầu giải quyết trong thời gian gần đây là: “Hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo” (khoản 4). Bên cạnh đó, thay vì biện pháp “tuyên truyền” của Luật BVMT 2005 thì Luật BVMT 2014 đề cập tới biện pháp “Truyền thông” (khoản 1). Ở đây không chi là van đề sử dụng thuật ngữ mà nội hàm của khái niệm truyên thông rộng hơn khái niệm tuyên truyền. 17 Điều 7 Luật BVMT 2014 qui định 16 hành vi bị nghiêm cấm.
Nhìn chung các hành vi bị nghiêm cầm không có sự khác biệt nhiều so với Luật BVMT 2005. Có 02 nội dung có sư khác biệt là: Thay vì quy định cam: “Nhập khẩu, quá cảnh chất thải dưới mọi hình thức” thì Luật BVMT 2014 quy định cắm: “Nhập khẩu, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức”. Như vậy, Luật BVMT 2014 chỉ cắm nhập khẩu quá cảnh chất thải từ nước ngoài. Như vậy hành vi đưa chất thải từ các khu vực có quy chế hải quan đặc biệt (như khu chế xuất, khu đặc quyền kinh tế.) trên lãnh thé Việt Nam vào khu vực khác thuộc lãnh thé Việt Nam không bị kiểm soát về BVMT.
Điều 7 bổ sung quy định cam: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyên hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thâm quyền dé làm trái quy định về quản lý môi trường”. Việc quy định hành vi bị cắm này là phù hợp với việc làm rõ hơn phạm vi và đối tượng áp dụng của Luật BVMT 2014 được quy định tại Điều I và Điều 2 Luật BVMT 2014 gồm cae cơ quan (nha nước). Tuy nhiên, một nhược điểm của việc quy định các hành vi bị cam theo Luật BVMT 2014 là các hành vi bị cắm thực hiện không chỉ được quy định tại Điều 7 nêu trên mà còn được quy định rải rác trong các quy định tại những chế định cụ thẻ, tại các chương, mục, điều cụ thé, được thê hiện dưới 03 dang là: 1) Hanh vi bi cam gom cac điều: Điều 42 khoản 2; Điều 75 khoản 2; Điều 103 khoản 4); ii) Hanh không được thực hiện (cũng với tính chat là hành vi bị cắm) gồm các điều: Điều 57 khoản 2; Điều 71 khoản 2, 5, 6; Điều 82 khoản 3; Điều 84 và iii) Chi được thục hiện một số hành vi (những hành vi còn lại bị cam) gồm Điều 58 khoản 1; Điều 76 khoản 1.