Chương 1 BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRÍ THỨC HÀ NỘI - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quan niệm về bình đẳng giới và bình đẳng giới trong gia đình trí thức Con người luôn vươn tới khát vọng về một xã hội bình đẳng, trong đó có bình đẳng giới. Muốn có bình đẳng giới ngoài xã hội thì phải bắt đầu thực hiện bình đẳng giới trong gia đình, bởi gia đình là tế bào của xã hội. Để có nhận biết về bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội cần tiếp cận từ một số cơ sở lý luận sau đây.
Quan niệm và nội dung của bình đẳng giới 1. Quan niệm về giới Mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới, sự giống và khác nhau giữa họ đó là vấn đề muôn thủa, có từ xa xưa khi loài người mới xuất hiện. Là con người, phụ nữ và nam giới gống nhau nhưng họ lại khác nhau về đặc điểm của cơ thể tự nhiên, đồng thời cũng khác nhau trong cách ứng xử do ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội. Giới là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân chủng học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội.
Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ. Điều 5 của Luật Bình đẳng giới (2006) đã chỉ rõ: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [74, tr. Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội. Theo quan niệm và thói quen đã có từ lâu đời ở nhiều nước, nhiều khu vực thì phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà như nấu ăn, chăm sóc con, phục vụ chồng… Còn nam giới có 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình và làm các công việc xã hội.
Khi sinh ra con người chưa có trong bản thân sự phân biệt giới mà họ dần tiếp thu và chấp nhận từ nền nếp gia đình, quy ước của xã hội và chuẩn mực của nền văn hóa. Khi nói giới tính là nói đặc điểm của con người do tự nhiên quy định. Nó ổn định, thậm chí, hầu như bất biến đối với cả nam và nữ, xét cả về mặt không gian và thời gian. Chẳng hạn, phụ nữ trong mọi thời đại, mọi chế độ chính trị, mọi nền văn hóa đều giống nhau ở khả năng mang thai và sinh sản.
Còn nói đến giới là nói đến địa vị xã hội, thái độ và hành vi ứng xử giữa nam và nữ do hoàn cảnh, điều kiện, văn hóa, xã hội… tạo nên. Địa vị, thái độ và hành vi đó không bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của hoàn cảnh, điều kiện xã hội, văn hóa. Giới và giới tính có quan hệ chặt chẽ với nhau. Giới tính là tiền đề sinh học giới, là dấu hiệu đầu tiên và lâu dài để phân biệt nam, nữ.
Không nên và không thể xem nhẹ sự khác biệt về giới tính giữa nam, nữ. Trái lại, cần tìm hiểu rõ những sự khác biệt này vì điều đó cho phép người ta hiểu được đầy đủ hơn năng lực, sở trường, nhu cầu riêng của nam, nữ để có sự phân công lao động phù hợp nhằm phát huy năng lực và đáp ứng đúng hơn nhu cầu riêng của nam và nữ. Hiểu rõ vai trò của giới và giới tính trong mối quan hệ qua lại là điều cần thiết để tổ chức và triển khai sự phân công lao động hợp lý. Tuy thế cần thấy vai trò của từng nhân tố và quan hệ giữa chúng không đơn giản và luôn thay đổi do tác động của hoàn cảnh xã hội, văn hóa, điều đó được biểu hiện rõ ở thời kỳ đầu của lịch sử loài người, ở thời kỳ này, nhân tố giới tính chi phối mạnh hơn, bởi con người sống theo bản năng tự nhiên, còn quan hệ xã hội thì mới sơ khai.
Đặc điểm tự nhiên của con người lúc đó tác động mạnh hơn so với tác động của quan hệ xã hội. Do vậy, đặc điểm giới tính của nhóm xã hội nào phù hợp với tính chất, trình độ của nền sản xuất thì nhóm đó tự nhiên có 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được vị trí cao hơn. Ví dụ, thời kỳ đầu tiên của lịch sử loài người, đặc điểm giới tính của phụ nữ phù hợp hơn với nền kinh tế hái lượm và trồng trọt và đó chính là cơ sở tự nhiên của chế độ mẫu quyền. Khi xã hội chuyển sang nền kinh tế lấy chăn nuôi săn bắn là chính thì đặc điểm giới tính của đàn ông tỏ ra phù hợp và họ đã giành được vị trí thống trị của phụ nữ trước đó và chế độ phụ quyền được xác lập.
Từ khi chế độ phụ quyền được xác lập, đàn ông với ưu thế sẵn có đã buộc xã hội chấp nhận quan niệm và cách sắp xếp của họ. Điều đó được nâng lên thành hệ tư tưởng và được thể chế hóa thành pháp luật, lâu dần thành thói quen, thành nếp sống, phong tục tập quán… Trong xã hội, người ta thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích sự khác biệt về giới. Các quan niệm rập khuôn, những thói quen và những điều mà xã hội chấp nhận thường được coi là thước đo hành vi, là chuẩn mực đánh giá phẩm chất của mỗi giới. Những tác động này làm duy trì và tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong xã hội.
Từ mối quan hệ giữa giới và giới tính cho thấy giữa nam và nữ có những đặc trưng hết sức khác nhau về mặt tự nhiên và mặt xã hội. Sự khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ mang tính bẩm sinh, không thể thay đổi được, đó là sự hài hòa mà tạo hóa đã ban cho loài người, để bảo tồn nòi giống. Ngược lại sự khác biệt xã hội giữa nam và nữ do xã hội tạo ra đã đưa tới sự bất bình đẳng giữa nam và nữ. Do vậy, bất bình đẳng giới thực chất là sự bất bình đẳng xã hội, xóa bỏ bất bình đẳng giới là rất cần thiết nhằm thay đổi tương quan địa vị xã hội giữa nam và nữ, thực hiện bình đẳng giới.
Quan niệm về bình đẳng giới và nội dung bình đẳng giới Bình đẳng giới là khái niệm biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội đối với nam và nữ; là môi trường trong đó có cả nữ giới và nam giới được hưởng vị trí ngang nhau, họ có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển quốc gia và được hưởng lợi từ các 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kết quả đó [85]. Luật Bình đẳng giới (2006) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [74, tr. Điều quan trọng nhất, bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được hưởng các thành quả một cách bình đẳng. Nếu như cả phụ nữ và nam giới cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và hưởng thụ từ các nguồn lực của xã hội là quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội, thì xã hội đó đã đạt được bình đẳng giới.
Nếu những tiêu chí này không được xác lập có nghĩa là trong xã hội đang tồn tại bất bình đẳng giới. Tuy nhiên, việc đối xử như nhau, cơ hội như nhau không đem lại kết quả như nhau đối với giới nữ và giới nam. Vì vậy, bình đẳng giới cần được hiểu là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ có xét đến những đặc điểm giống nhau và khác nhau của mỗi giới, và được điều chỉnh bởi các chính sách đối với từng giới một cách hợp lý. Mặt khác, không nên hiểu bình đẳng giới theo cách đơn giản là nam giới và nữ giới tham gia như nhau trong tất cả các hoạt động, cũng không phải phương châm phụ nữ “vùng lên” đòi hỏi quyền lợi ngang bằng nam giới, bất chấp sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa nam và nữ.
Hơn nữa, việc không phân định rõ ràng sự khác biệt mang tính chất giới và giới tính lại chỉ thấy có một phía là không bình đẳng nghiêng về nữ, chắc chắn sẽ dẫn đến hệ quả ngược lại với mong muốn ban đầu mang tính nhân văn sâu sắc của nhận thức giới và cách giải quyết sẽ chỉ là: hoặc hoán vị vai trò giới một cách máy móc những gì phụ nữ có và phải làm thì đem chuyển cho nam giới và ngược lại, hoặc đi đến chủ nghĩa bình quân giữa nam và nữ để chỉ chia nhau cơ hội, lợi ích, trách nhiệm… 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bình đẳng giới theo yêu cầu của xã hội hiện nay còn cần phải gắn với quan điểm phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Nó đòi hỏi một sự chuyển biến đồng bộ của tất cả mọi thành phần, mọi lứa tuổi, nhưng trước hết đối với nam giới trong hàng loạt vấn đề: từ nhận thức đến thái độ ứng xử xã hội và hành vi cụ thể trong mối quan hệ với phái nữ. Để có thể đáp ứng được yêu cầu trên, cần đảm bảo hai yếu tố: Thứ nhất. Đó là sự tôn trọng giá trị nhân phẩm (quyền con người toàn diện) cũng như giá trị lao động của lao động nam cũng như lao động nữ trong những đóng góp của họ đối với xã hội và gia đình.
Là cả lao động nữ lẫn lao động nam đều có trách nhiệm, chia sẻ với nhau trong thực hiện công việc gia đình và công việc chung của xã hội. Sự phát triển bền vững của xã hội là lấy con người là mục tiêu và là động lực. Quá trình phát triển sẽ diễn ra chậm chạp nếu như một nửa của nhân loại là phụ nữ vẫn bị hạn chế hoặc loại trừ khỏi quá trình phát triển. Chính vì nhận thức được điều này mà vấn đề bình đẳng giới đang là vấn đề có tính quốc tế, là mối quan tâm của toàn nhân loại.