Chương 1 BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC TRÊN LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA 1.1 Bình đẳng dân tộc và bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo 1.1 Khái niệm dân tộc, bình đẳng dân tộc Khái niệm dân tộc Hiện nay, trong ngôn ngữ diễn đạt hay trong nhận thức, quan niệm của chúng ta, khái niệm “dân tộc” được hiểu rất đa nghĩa, đa cấp độ. Điều đó một phần là do vấn đề dân tộc được xem xét từ những quan điểm, lập trường và góc độ khác nhau; phần khác, do hiện thực phong phú, phức tạp của các loại hình dân tộc đang tồn tại ở các quốc gia, khu vực trên thế giới. Sự phong phú, phức tạp đó đưa đến nhiều định nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Cho đến nay, chưa có định nghĩa nào diễn đạt được đầy đủ, trọn vẹn thuộc tính của các loại hình dân tộc đã xuất hiện và đang tồn tại trên thế giới.
Việc tìm kiếm một định nghĩa “dân tộc” đang là đòi hỏi cấp bách của lý luận và thực tiễn. “Dân tộc” theo từ gốc Latinh là “natio” có nguồn gốc từ chữ “nasei” nghĩa là sinh ra. Mặc dù không được sử dụng đầy đủ ý nghĩa như ngày nay nhưng từ cuối thời trung cổ khái niệm “dân tộc” đã được dùng rộng rãi ở châu Âu. Nhiều nhà tư tưởng cách mạng tư sản châu Âu đã dùng khái niệm “dân tộc” để chỉ cộng đồng nhân dân trong một quốc gia; không có vua và quý tộc trong cộng đồng này; những thị dân và đẳng cấp thứ ba được xem như thành phần chủ yếu của dân tộc.
Như vậy, trong giai đoạn đó, khái niệm z “dân tộc” chủ yếu mang nội dung giai cấp, chưa trở thành một khái niệm có tính học thuật. Đến thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVII - XVIII), các nhà tư tưởng tư sản là những người đầu tiên đưa ra các định nghĩa học thuật về dân tộc. Theo Điđơrô (nhà tư tưởng người Pháp) thì dân tộc là một số lượng đáng kể dân chúng sống trên phạm vi đất nước nhất định và tuân theo sự cai trị của một chính phủ. Nghĩa là, dân tộc gắn với quốc gia và bao hàm quan hệ chính trị (quan hệ với nhà nước) chứ chưa đề cập đến quan hệ cộng đồng về kinh tế.
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nhà lý luận tư sản lại phủ nhận quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhấn mạnh yếu tố tinh thần và yếu tố chủng tộc khi đề cập đến vấn đề “dân tộc”. So với các nhà tư tưởng tư sản trước đây, các nhà tư tưởng tư sản thời kỳ này xem xét “dân tộc” ở mức độ khái quát hơn. Tuy nhiên, trong những quan niệm của họ, “dân tộc” chưa được quan niệm là hình thức cộng đồng người có tính lịch sử, họ chưa thấy rõ cơ sở kinh tế - xã hội của sự hình thành và tồn tại của các dân tộc. Mác và Ăngghen không đưa ra định nghĩa cụ thể nào về dân tộc, mặc dù các ông nghiên cứu khá sâu và có những quan điểm rất khoa học về những nội dung cơ bản và có liên quan đến vấn đề dân tộc.
Năm 1913, trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc”, Xtalin đưa ra định nghĩa: “Dân tộc là một hình thức cộng đồng người ổn định, bền vững, hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, có chung các mối quan hệ về kinh tế, có chung một ngôn ngữ, một nền văn hóa” [86, 357]. Định nghĩa này được coi là tương đối hoàn chỉnh về “dân tộc”, đã chỉ ra được có 4 yếu tố cấu thành dân tộc, đó là ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, văn hoá; chỉ cần thiếu một trong bốn yếu tố đó sẽ không hình thành dân tộc. Nhưng Xtalin lại quá nhấn mạnh yếu tố kinh tế (cộng z đồng kinh tế), chưa coi trọng nhân tố tộc người và yếu tố văn hóa, bản sắc văn hóa của dân tộc … Ở nước ta, do nhu cầu bức xúc của vấn đề dân tộc và giải quyết các vấn đề dân tộc, căn cứ vào những thành tựu khoa học ngày nay, đứng trên quan điểm mácxít và dưới góc độ triết học chính trị, thì “dân tộc” được hiểu là một cộng đồng xã hội ổn định có những đặc trưng cơ bản sau: + Dân tộc là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, do đó là một cộng đồng ổn định. + Dân tộc là một cộng đồng người co chung một phương thức sinh hoạt kinh tế.
+ Dân tộc là một cộng đồng người có chung một ngôn ngữ. + Dân tộc là một cộng đồng người có những nét tâm lý chung biểu hiện trong bản sắc văn hóa. Hiện nay có những quốc gia nhiều dân tộc, gọi là quốc gia đa dân tộc, nhưng cũng có quốc gia chỉ có một dân tộc, gọi là quốc gia dân tộc (Nhật Bản, Anh Quốc, Triều Tiên). Vì thế mà khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa (nghĩa hẹp và nghĩa rộng).
Khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp (tức là được hiểu theo nghĩa tộc người - ethnic) là một cộng đồng người có chung nguồn gốc được hình thành trong lịch sử, mang ba đặc trưng chủ yếu sau: cộng đồng về ngôn ngữ, về văn hóa, về ý thức tự giác tộc người. Trong quốc gia đa dân tộc, nhiều khi những đặc trưng trên cũng mang tính đặc thù và thường xuất hiện những dân tộc có dân cư đông gọi là dân tộc đa số; còn dân tộc ít dân cư hơn gọi là dân tộc thiểu số. Vì vậy, dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số đều được gọi là dân z tộc. Theo nghĩa này ở Việt Nam có dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Mường, dân tộc Thái… Khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa rộng (tương ứng với quốc gia, đất nước - nation) khái niệm này dùng để chỉ một cộng đồng chính trị - xã hội, bao gồm tất cả các thành phần dân tộc đa số hay thiểu số sinh sống trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia nhất định.
Dân tộc theo nghĩa này, có dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp, dân tộc Đức… V.Lênin trong nhiều tác phẩm của mình đã dùng thuật ngữ dân tộc theo nghĩa này để chỉ một cộng đồng xuất hiện cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, được hiểu là cộng đồng quốc gia dân tộc tương ứng với thuật ngữ dân tộc. Tuy nhiên, khi xuất hiện các quốc gia dân tộc thì V.Lênin lại dùng thuật ngữ quốc gia đa dân tộc. Do đó thường gây sự nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ này. Vì vậy, ở đây cần có sự thống nhất, dân tộc được hiểu theo hai nghĩa: dân tộc với tư cách là một cộng đồng quốc gia và dân tộc với tư cách một cộng đồng tộc người.
Mặc dù, khái niệm “dân tộc” được hiểu theo hai nghĩa như vậy, nhưng chúng luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi lẽ, nhân tố chính trị - xã hội dường như cùng xuất hiện và cùng phát triển với nhân tố tộc người trong một tiến trình thống nhất dẫn tới sự hình thành dân tộc. Sự phát triển và hòa quyện giữa hai nhân tố đó được ghi nhận sâu sắc trong ý thức của dân cư dân tộc về sự gắn bó quyền lợi và nghĩa vụ của mình với cộng đồng dân tộc, đồng thời với nhà nước, cộng đồng quốc gia. Nhận thức được điều đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa trong khi hoạch định và thực hiện mọi chính sách chung của quốc gia, cần chú ý đến tính đặc thù của các dân tộc, hơn nữa cần có chính sách riêng bổ sung vào các chính sách chung nhằm đáp ứng đòi hỏi chính đáng mang tính đặc thù của từng dân tộc.
Chính sách đó nhằm củng cố và phát triển nền kinh tế thống z nhất nhưng đa dạng, trong đó tiềm năng của từng dân tộc được phát huy đầy đủ, có khả năng liên kết các thành viên, các bộ phận của dân tộc trong một quốc gia thành một khối thống nhất và trở thành hiện thân của sự đoàn kết giữa các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, xây dựng và phát triển nền văn hóa trong đó mọi giá trị văn hóa của từng tộc người được giữ gìn và phát huy trong xu thế giao lưu, hội nhập các giá trị văn hóa các dân tộc để hình thành nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, “dân tộc” được sử dụng theo nghĩa dân tộc - tộc người. Khái niệm bình đẳng dân tộc Bình đẳng (éganlité trong tiếng Pháp, equality trong tiếng Anh) là một phạm trù chính trị - xã hội, đều có nghĩa là sự bằng nhau, sự ngang nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã hội về một hay một số phương diện xã hội nhất định (chẳng hạn sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay các nhóm xã hội về những quyền và nghĩa vụ công dân, về địa vị xã hội, về cơ hội, về mức độ thỏa mãn những nhu cầu nhất định trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội…) Theo nghĩa này, bình đẳng (hay bình đẳng xã hội) là sự giống nhau nhưng lại là hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể (xuất phát điểm của từng người, từng đơn vị tham gia trong xã hội là khác nhau, khả năng của mọi người cũng khác nhau nên cùng một cơ hội có người sẽ tận dụng tốt để tạo ra hiệu quả cao, nhưng sẽ có người không có năng lực để tận dụng cơ hội đó) và nó khác với chủ nghĩa bình quân là sự giống nhau một cách máy móc, thuần túy áp dụng một tiêu chuẩn như nhau cho những con người, cộng đồng người vốn dĩ khác nhau. Đồng thời nó cũng khác với công bằng xã hội - đó là sự ngang bằng nhau giữa người với người về một phương z diện hoàn toàn xác định: quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ (cống hiến ngang nhau thì được hưởng thụ ngang nhau).
Như vậy, công bằng xã hội thực chất là biểu hiện cụ thể của bình đẳng xã hội, thực hiện công bằng xã hội là góp phần thực hiện bình đẳng xã hội. Trong thời gian gần đây, các nhà xã hội học thường nói đến hai loại bình đẳng: bình đẳng về cơ hội và bình đẳng về hưởng thụ.