Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHẢO SÁT THỰC TẾ CÓ LIÊN QUAN 1. Biểu tƣợng và biểu tƣợng trong văn học dân gian 1. Biểu tượng Tổ chức UNESCO trong toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa (International Thesaurus on Cultural Development) đã nhận định về văn hóa như sau: “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thể ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”. (Dẫn theo Nguyễn Văn Hậu, Đi tìm bản sắc văn hóa dân tộc qua thế giới biểu tượng) [16, Tr1] Như vậy, biểu tượng (Symbol) là một trong những thành tố không thể thiếu được khi đi nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa.
Trong lịch sử triết học, rất nhiều nhà khoa học lớn đã đề cập đến biểu tượng như ở Đức có nhà triết học duy tâm khách quan Heghen, Freud – Bác sĩ về phân tâm học người Áo, nhà dịch học Chu Hy ở Trung Quốc. [16, Tr 2] Từ thời công xã nguyên thủy, khi con người 11 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn biết lao động và hình thành nên ngôn ngữ để giao tiếp thì cùng lúc đó con người đã gián tiếp hình thành trong tư duy một hệ thống biểu tượng để nhờ đó mà khám phá thế giới khách quan. Mỗi nhà khoa học lại đưa ra cách hiểu khác nhau về biểu tượng của ngành khoa học mà mình đang nghiên cứu. Xét trên góc độ văn hóa, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng và chắc chắn để duy trì bản sắc đó cũng phải thông qua một hệ thống các biểu tượng.
Tìm hiểu thế giới biểu tượng ẩn dấu trong điệu khèn Mông ắt hẳn chúng ta không thể bỏ qua những hiểu biết và khám phá mà nhân loại đã có về biểu tượng. Trên thế giới, người ta còn xây dựng thành một hệ thống tương đối đầy đủ về biểu tượng trong các lĩnh vực của đời sống và làm thành những bộ từ điển về biểu tượng như “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới” của Jean Chavelier và Alain Gheer Brant. Trên phương diện triết học, từ thời xa xưa Chu Hy – Nhà Dịch học thời Tống đã khẳng định: “Tượng là lấy hình này để tỏ nghĩa kia”,[16, Tr1] như vậy biểu tượng chính là mô hình của ý thức con người mà thông qua đó giúp chúng ta liên tưởng tới sự vật, hiện tượng khác. Có lẽ chính vì thế mà chữ viết của Trung Hoa mang tính tượng hình rất rõ rệt, mỗi chữ đều thể hiện một ý nghĩa thông qua tính biểu tượng của nó.
Tính biểu tượng (Symbolic) có mặt ở hầu khắp các phạm vi trong đời sống tự nhiên và xã hội. Dưới tư duy của con người, một bộ rễ cây cũng có thể là biểu tượng của một thứ nào đó khác, một con vật cụ thể, nhỏ bé có thể là biểu trưng tinh thần cho một quốc gia, một dân tộc. Radugin trong “Từ điển bách khoa Văn hóa học” định nghĩa “Biểu tượng là một loại ký hiệu đặc biệt thể hiện nội dung thực tế của một điều nào đó”.(Dẫn theo Đặng Thị Oanh , Biểu tượng nước từ văn hóa đến văn học dân gian của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam) [28, Tr10] Nhà phân tâm học Thụy Sỹ C.Jung lại đưa ra định nghĩa rằng “Biểu tượng là một danh từ, một tên gọi hay một đồ vật, ngay cả khi là quen thuộc ở 12 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn trong đời sống hàng ngày, nhưng vẫn chứa đựng những mối liên hệ về mặt ý nghĩa, bổ sung vào cái ý nghĩa ước định hiển nhiên và trực tiếp của chúng”. (Dẫn theo Nguyễn Văn Hậu, Đi tìm bản sắc văn hóa dân tộc qua thế giới biểu tượng) [16, Tr1] Freud thì xác định “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột.
Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng”. (Dẫn theo Đặng Thị Oanh , Biểu tượng nước từ văn hóa đến văn học dân gian của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam) [28, Tr10] Trên góc độ nhận thức của văn học - một ngành nghệ thuật cũng đòi hỏi tư duy và tính biểu tượng cao để cảm thụ và sáng tạo nó – Biểu tượng đã được hiểu là “một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa về con người, về cuộc đời” (Từ điển thuật ngữ văn học) [15, Tr45] Như vậy, dù các nhà khoa học có rất nhiều cách hiểu khác nhau về biểu tượng nhưng có một điểm chung dễ dàng nhận thấy rằng biểu tượng chính là hình ảnh của những sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan được hình thành bằng tri giác, cảm giác của con người. Biểu tượng không nhất thiết phải là sự vật, hiện tượng thực tế mà có khi chỉ là những hình dung chủ quan của con người thông qua nhiều thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa. Biểu tượng trong Văn học dân gian Con người luôn có xu hướng muốn giải mã các biểu tượng xuất hiện trong tự nhiên và đời sống xã hội bởi biểu tượng luôn gợi mở cho chúng ta 13 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn nhiểu khám phá mới mẻ.
Biểu tượng của mỗi loại hình nghệ thuật lại có những cách biểu hiện khác nhau. Hội họa sử dụng màu sắc, đường nét, điêu khắc sử dụng hình khối, điện ảnh sử dụng cử chỉ, điệu bộ, động tác của con người. Văn học là một loại hình nghệ thuật ngôn từ nên biểu tượng của văn học phải liên quan đến ngôn từ. Biểu tượng này được cấu tạo thông qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học.
Trên cơ sở đó, có thể khẳng định biểu tượng trong các sáng tác văn học dân gian là biểu tượng ngôn từ. Biểu tượng trong văn hoá nói chung có nhiều đặc trưng như tính tổng hợp, tính ổn định, khả năng thâm nhập lẫn nhau, tính đa chiều, mở rộng, phát triển …Trong văn học dân gian, biểu tượng là một thành tố trong tác phẩm và đặc trưng của biểu tượng văn học dân gian có sự hoà quyện với các đặc trưng của văn học dân gian. Những đặc trưng cơ bản của biểu tượng văn học dân gian là: - Biểu tượng văn học dân gian là biểu tượng đa nghĩa, đa hình thức biểu hiện. - Biểu tượng của văn học dân gian mang bản chất của biểu tượng ngôn từ nghệ thuật.
- Biểu tượng trong văn học dân gian chịu ảnh hưởng của đặc điểm thể loại. - Biểu tượng văn học dân gian mang đặc điểm lưỡng phân, lưỡng hợp. - Biểu tượng văn học dân gian mang đậm đà bản sắc văn hoá của tộc người. Như vậy, các đặc trưng của biểu tượng văn học dân gian là sự tổng hợp một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn các đặc trưng của văn học dân gian và các đặc trưng của biểu tượng nói chung.
Những đặc trưng này làm nên giá trị khu biệt, độc đáo của biểu tượng trong văn học dân gian so với biểu tượng của các loại hình nghệ thuật khác. Ngƣời Mông và những đặc trƣng cơ bản trong văn hóa 1. Nguồn gốc của người Mông 14 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Người Mông tên tự gọi là H’Mông, Na Miẻo hay tên gọi khác là H’Mông, Miêu, Miếu Hạ (ở Trung Quốc), Mèo, Mán Trắng (ở Việt Nam), Mẹo (ở Lào), là một dân tộc có số lượng người khá đông trong 56 dân tộc của Trung Hoa và cũng là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam. Theo điều tra dân số năm 2000 có khoảng 9,6 triệu người Miêu ở Trung Quốc sống chủ yếu ở các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây và Hồ Bắc.
Ở Việt Nam, theo số liệu điều tra năm 2003 thì người Mông ước tính có khoảng 896.239 người sống tập trung tại các vùng núi cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An. Ngoài ra người Mông còn có mặt tại nhiều khu vực khác trên thế giới như Thái Lan, Lào, Miến Điện, Hoa Kỳ. Người Mông ở nước ta có ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Mông Dao và được phân chia thành nhiều nhóm bao gồm: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Sí (Mông Đỏ), Mông Đú (Mông đen), Mông Súa (Mông Mán), H’Mông Xanh. [9] Theo các nhà sử học thì dân tộc Mông có nòi giống xuất phát từ châu Âu, di dân dần đến vùng đồng khô Siberia, rồi mới đến định cư ở lưu vực sông Hoàng Hà.
Điều này được minh chứng là trong truyền thuyết Mông vẫn lưu truyền lại là tổ tiên của họ sống ở vùng có tuyết phủ quanh năm và ngày đêm kéo dài tới nửa năm. Số phận người Mông gắn với lịch sử Trung Hoa mấy ngàn năm, theo sử sách ghi chép lại đến giữa thế kỷ thứ VI người Mông đã thiết lập được một vương quốc tạm khá rộng ở phía Tây Trung Quốc kéo dài từ Hà Nam qua Hồ Bắc, Hồ Nam xuống đến Quảng Tây gọi là “Tam Miêu”. Những người cai trị được gọi bằng cái tên Chiyou (Xi Vưu nghĩa là “ông cha”– theo tiếng Hoa) hay Txiv Yawg (Theo tiếng Mông) Đến thời Ngũ đại và Thập quốc, nhà Hậu Chu cố chiếm lấy vương quốc H’Mông và chấm dứt một thời kỳ vàng son của bộ tộc Miêu. Người Mông phải chạy trốn vào Quế Châu, Tứ Xuyên, số khác lại bôn tẩu xuống Quảng Đông, Quảng Tây trở 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn thành những bộ lạc thiểu số.
Quan cai trị họ lại chia rẽ và phân nhóm họ bằng cách bắt thay đổi màu sắc quần áo. Từ đó mà xuất hiện những tên gọi Mông trắng, hoa, đỏ, xanh. Thời Minh, Thanh triều đình ra sức trấn áp tộc Miêu. Người Miêu tìm cách chống lại bằng nhiều cuộc bạo loạn với sự lãnh đạo của các tù trưởng.
Mặc dù đã kháng cự lại mạnh mẽ nhưng nhiều nhóm người Miêu vẫn không chịu được sự áp bức này phải trốn sâu vào rừng hoặc dời về phía Bắc vùng Tứ Xuyên, phía Tây Vân Nam, một số cư dân tộc Miêu theo người Hản (Haw – những người theo đạo Hồi có liên hệ với Miến Điện, chuyên buôn bán thương mại) sang Miến Điện và Đông Dương, nhóm đến Việt Nam khoảng 6 ngàn người kéo vào từ biên giới.