Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Một trong những nhiệm vụ, mục tiêu quan trọng nhất của điều tra rừng là đánh giá được số lượng và chất lượng tài nguyên gỗ. Lý luận điều tra rừng (Vũ Tiến Hinh - Phạm Ngọc Giao, 1997[9]) đã chỉ rõ: Trữ lượng sản phẩm là chỉ tiêu số lượng nhưng đồng thời lại thuyết minh cho chất lượng của lâm phần, do vậy các tác giả trong và ngoài nước đều quan tâm nghiên cứu các phương pháp điều tra nhân tố này cho các đối tượng rừng khác nhau. Dưới đây sẽ đề cập đến một số công trình chủ yếu liên quan tới lập biểu thể tích và biểu sản phẩm, một công cụ phổ biến nhất để điều tra trữ lượng sản phẩm rừng. Trên thế giới.
Về tương quan giữa thể tích với đường kính và chiều cao Thể tích và trữ lượng là con số biểu thị khối lượng gỗ (tính bằng m3) mà cây hoặc bộ phận của cây hay toàn rừng tạo ra kể từ lúc chúng xuất hiện tới một thời điểm nào đó. Mặc dù thân cây hay bộ phận thân cây được xem như một khối hình học tròn xoay nào đó nhưng thực tiễn đã cho thấy không thể hoặc không dễ đo được các chỉ tiêu về kích thước và hình dạng cây đứng nên không thể xác định thể tích của chúng bằng những công thức hình học đã biết. Để giải quyết tồn tại này người ta thường lập sẵn những bảng tra thể tích ứng với đường kính qui chuẩn chiều cao và hình dạng gọi chung là biểu thể tích (Volume table). Khoa học Điều tra rừng đã khẳng định thể tích thân hoặc bộ phận thân cây đứng có thể xác định bằng công thức: V d 2j h f j 4 (1-1) 4 Với: V là thể tích thân cây hoặc bộ phận của thân cây.
dj là đường kính qui chuẩn được chọn ở vị trí nào đó trên phần gốc cây để có thể đo được dễ dàng. h là chiều cao thân cây. fj là hình số hay đại lượng biểu thị hình dạng của thân cây hoặc bộ phận hình dạng thân cây ứng với dj đã chọn ở trên. Theo Akindele và Lemay (2006), Đồng Sĩ Hiền (1974,[7]), các mô hình toán học vể thể tích thân cây được xem xét như là một hàm của các biến độc lập, đường kính, chiều cao và hình số, nó được viết dưới dạng: V= f(d.f) (1-2) Trong đó: V: Thể tích thân cây d: Đường kính ngang ngực h: Chiều cao vút ngọn, chiều cao gỗ thương phẩm hoặc chiều cao một vị trí bất kì trên thân cây f- Chỉ số hình dạng Spurr S.H (1952), đã đề xuất phương trình V= a + b.h) (1-3) Shumacher B và Hall (1933), đã đề xuất phương trình: V = k.db1hb (1-4) Theo Jayaraman.(1999),(theo Nguyễn Văn Thuận,(2010),[17]),trong lâm nghiệp thường sử dụng một số phương trình tương quan sau đây để tính thể tích thông qua các biến độc lập là đường kính ngang ngực và chiều cao: 5 V = a + b.h (1-7) Dưới đây là một số phương trình tính thể tích thân cây thường được áp dụng: 2 Kiểu nhân tố hình dạng không đổi: V= b1d h (1-8) Kiểu kết hợp biến: V= b0 b1d 2 h (1-9) 2 3 V= b1d b h b (1-10) Dạng biến đổi logarit: V= logb1 + b2logd + b3logh (1-11) d2 Đổi biến của Honer: V= (1-12) b0 b2 h 1 Theo Loetsch-Zoehrer-Haller (1973),(dẫn theo Bảo Huy (1993),[4]) độ cao gốc chặt thường lấy bình quân bằng 0.3m, ở các nước nhiệt đới, chiều cao gốc chặt thường lớn hơn bởi vì nhiều loài cây thường có bạnh gốc, ở châu Âu, đường kính giới hạn phần gỗ ngọn cây thường quy định là 7cm.
Tuy nhiên, đường kính giới hạn thường thay đổi do kích thước sản phẩm và điều kiện sử dụng gỗ. Với loài Pinus patula ở Kenia. (1980), [19], xác định đường kính giới hạn trên bằng 20cm và xác lập quan hệ thể tích thân cây từ gốc chặt đến đường kính giới hạn với đường kính và chiều cao. FAO (1981), giới thiệu biểu gỗ sản phẩm loài pinus halepensis ở miền Tây Malaysia.
Trong đó gỗ sản phẩm được tính từ gốc cây đến chiều cao dưới tán (VS). Thể tích thân cây được xác định thông qua VS bằng phương trình parabon bậc 2. 6 FAO (1989), đã lập biểu sản phẩm cho đối tượng rừng khô với các loại sản phẩm gỗ tròn có đường kính > 40cm, gỗ tròn có đường kính < 40cm, gỗ cột, củi, sản lượng quả. Trong đó, gỗ thương phẩm được tính từ gốc cây đến đường kính đầu nhỏ bằng 7.
Với đối tượng kinh doanh gỗ nhỏ hay bột giấy thì gỗ thân cây cũng chính là gỗ thương phẩm. Về hình số tự nhiên Hohenadl (1922-1923), đề nghị hệ số thon và hình số tự nhiên đặt trên cơ sở đường kính ở vị trí 0.1 của chiều cao tính từ vị trí cổ rễ, các chỉ tiêu hình dạng tương đối của Hohenadl đã được thừa nhận rộng rãi ở các nước nói tiếng Đức và Cộng hòa liên bang Đức và ngày càng được thừa nhận trên thế giới. Để giải quyết vấn đề lập biểu chung cho tất cả các loài cây hay riêng cho từng loài. Krauter nghiên cứu hình dạng theo đại lượng tương đối và dùng hình số tự nhiên f01(tức là λ 0.
Để kiểm tra thuần nhất hình dạng ông đã chia năm tổ: mỗi tổ có 50 cây tiêu chuẩn, bốn tổ cho các loài Lim, Dẻ, Táu, và Trám còn tổ thứ năm gồm 50 cây được chọn ngẫu nhiên trong tất cả các loài. Krauter lập bảng phân tích phương sai nhưng không kết luận. Để tính hình số G. Krauter đã dùng phương trình: F01 = a – b.833) (1-13) Trong đó f01 là hình số thon tự nhiên K05 là hệ số thon tự nhiên ở giữa thân tức là η05; a và b là hệ số phương trình, r là hệ số tương quan.
Krauter đã chuyển từ f01 sang f1.3 theo công thức: f 01 f1.3 = bằng cả hai phương trình tương quan.d Trong đó qH là hệ số Hohennal: d1.3 2 qH d 01 Ông đã lập được phương trình cho bốn loài chính nhưng sau khi kiểm 2 tra thấy phương trình của các loài giống nhau, riêng phương trình qH với d của loài Lim đã sai lệch với các phương trình khác trong phạm vi đường kính từ 30- 50cm.Krauter đã tính phương trình chung cho tất cả các loài: f01 = 0.3 = cho mỗi cỡ đường kính mà không phân biệt chiều cao khác q H2 nhau, qua kiểm tra bằng biểu đồ thì thấy rằng f1.3 tính theo phương pháp đó có khớp với các trị số hình số tính từ f01 và qH quan sát theo công thức: f 01 f1.3 = q H2 Hình số tự nhiên phổ biến nhất là f01, Hohenadl đã đề nghị tính thể tích của cây theo 5 đoạn bằng nhau, mỗi đoạn có chiều dài bằng 0. Vậy thể tích sẽ là: V = 0. Về phương trình đường sinh Ngoài việc tính toán thể tích bằng phương pháp tương quan thông qua việc sử dụng các hàm quan hệ giữa biến phụ thuộc và thể tích với các biến độc lập như đường kính, chiều cao, hình số thì thể tích cây có thể được tính thông qua phương pháp đường sinh. Mặc dù về mặt lý thuyết ngay từ thế kỷ 19 người ta đã biết nếu coi thân cây là một khối hình học tròn xoay thì thể tích chính là tích phân phương trình đường sinh của nó.
Tuy nhiên, do đường sinh thân cây là đường cong rất phức tạp, chỉ có thể biểu diễn bằng một phương trình Parabol bậc cao nên những đề nghị của Mendeleev (1899), Wimmenauer (1918), Belanovski (1917), theo Đồng Sĩ Hiền (1974), vào đầu thế kỉ 20, mới chỉ dừng ở phạm trù lí thuyết. Mãi tới giữa thế kỷ 20 những đề nghị này mới trở thành hiện thực nhờ sự trợ giúp của những phương tiện tính toán hiện đại. Từ đó xuất hiện một phương pháp lập biểu thể tích mới gọi là phương pháp đường sinh thân cây. Theo Đồng Sĩ Hiền (1974),[7], ở nước Đức Muller (1960), cho rằng đường kính liên hệ với chiều cao theo dạng: d a h b hoặc a e ln b.h Đầu thế kỷ 20, do nhu cầu phát triển công nghiệp sản phẩm gỗ trở nên đa dạng và tập trung hơn nên đã xuất hiện những nghiên cứu cơ bản về điều 9 tra gỗ.
Đầu tiên các tác giả xây dựng loại biểu thể tích hình viên trụ (thực chất là một bảng tính sẵn) để tra tính thể tích một khúc gỗ theo chiều dài và đường kính trung bình, giai đoạn 1906 - 1908 Criudener, giám đốc sở lâm nghiệp Hoàng gia Nga đã lập biểu thể tích gỗ tròn cho 6 loài cây.G (1917), và Wimmenauer K (1918), đặt mục tiêu xác định hình dạng của đường sinh và biểu thị nó bằng phương trình toán học xem đường kính như là một hàm của chiều cao: Y = F(x) và đề nghị biểu thị hàm số này bằng phương trình bậc hai, bậc ba và bậc bốn.N (1952), lập biểu sản phẩm cho loài Thông đây là biểu sản phẩm ghi thể tích gỗ tính từ gốc cây đến vị trí cỡ đường kính bằng 4 inch (1inch = 2. Cũng trong thời gian này một số biểu khác cũng được lập như biểu phục vụ tỉa thưa của Bradl R xuất bản ở Anh năm 1966 và biểu lập theo cấp chiều cao của Ivarsannet xuất bản ở Thụy Điển năm 1988. Muller G (1960), đề nghị biểu thị mối liên hệ giữa đường kính và chiều cao bằng hàm số mũ: d = a. Giả thiết vòng năm có bề dày cố định thì có thể tính được thể tích thân cây bình quân cho những cây ở cùng điều kiện lập địa và có chiều cao bằng cách lấy tích phân diện tích nằm dưới đường cong tức là lấy tích phân phương trình mũ trên.I (1965), ở Thụy Điển đã sử dụng 3 phương trình kết hợp lại để tiếp cận phương trình đường sinh thân cây.n i Don Trong đó: + n là hệ số độ thon tự nhiên n = D 01 10 h + n là chiều dài tương đối n = n h + k.
i ,i : là hệ số cố định, thể tích cơ bản sẽ là: Vg = . Về việc đánh giá mô hình lựa chọn Theo Nguyễn Thị Thùy (2010), Jiang (2005), đã đưa ra 3 chỉ tiêu định lượng cho việc đánh giá mô hình đó là: độ lệch trung bình (average bias), sai số chuẩn ước lượng (standard error of estimate- S.E) và chỉ số thích hợp (fit index- FI) Độ lệch trung bình (Average bías) 1 i i ^ n Y Y Độ lệch trung bình = (1-20) n ^ Trong đó Yi là giá trị thực tế. Yi là giá trị lý thuyết và n là số quan sát của bộ số liệu. Sai số hồi quy (standard error of estimate- S.