CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH CHO VÙNG LÃNH THỔ 1. Những đặc điểm về du lịch, thị trường du lịch và hoạt động thu hút khách du lịch 1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch, khách du lịch và thị trường du lịch Du lịch đang trở thành một trong những ngành kinh tế tổng hợp phát triển nhanh nhất, lớn nhất trên bình diện thế giới, góp phần đặc biệt quan trọng vào sự phát triển và thịnh vượng của nhiều quốc gia. Đặc biệt với các nước đang phát triển, du lịch được coi là ngành kinh tế trọng yếu, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, tăng thu ngoại tệ, tạo việc làm và nâng cao mức sống của người dân.
Phát triển du lịch là công cụ xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế. Theo nhà kinh tế Kalfiotis, du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên hoạt động kinh tế. Theo quan điểm của Robert W.R Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch. Luật du lịch Việt Nam (2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
[14,10] Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới: “Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú các cá nhân hay tập thể ở 6 bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ”. [12,7] Tại các nước đều có các định nghĩa riêng về khách du lịch. Tuy nhiên, điểm chung nhất đối với các nước trong cách hiểu khái niệm về khách du lịch là: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24 giờ trở lên (hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian một năm.
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. [14,10] • Khách du lịch được phân chia ra làm hai loại chủ yếu căn cứ vào phạm vi đi du lịch của họ là khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. Khách du lịch quốc tế được Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) định nghĩa là “Tất cả những ai đến một đất nước khác ngoài quốc gia mà họ cư trú trong thời gian ngắn nhất là 24 tiếng đồng hồ với mục đích ngoài mục đích kiếm tiền hoặc làm việc lâu dài”. [12,9] Trong Luật Du lịch có chỉ rõ định nghĩa khách du lịch quốc tế (đối với Việt Nam) “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi nước ngoài du lịch” [14,10] • Mỗi loại khách du lịch có những sự cách biệt lớn về mục đích và nhu cầu du lịch.
Sự gắn kết chặt chẽ giữa khách du lịch với thị trường du lịch là cơ sở cho việc phân loại thị trường du lịch dựa trên tiêu chí chủ yếu là khách du lịch.Vai trò tương đối đặc biệt của khách du lịch trên thị trường là một đặc điểm riêng có của thị trường du lịch.Khách du lịch là khách cuối cùng tiêu dùng trực tiếp dịch vụ và hàng hóa.Nhưng xét từ góc độ quan hệ giữa các nhà cung cấp với các công ty lữ hành du lịch (hoặc giữa các công ty lữ hành với 7 nhau), khách du lịch trở thành đối tượng điều chỉnh chủ yếu quá trình trao đổi kinh doanh giữa các doanh nghiệp. • Từ những điểm phân tích trên đây, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về thị trường du lịch như sau: Thị trường du lịch là một phạm trù phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa và dịch vụ giữa khách du lịch và các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ đã được thể chế hóa. Thị trường du lịch là bộ phận đặc biệt của thị trường hàng hóa và dịch vụ trong đó khách du lịch có vai trò quyết định tới tính chất và phạm vi của thị trường. • Những nét cơ bản trong định nghĩa của thị trường du lịch như sau: • Chứa đựng tổng cung (các nhà cung cấp) và tổng cầu (khách du lịch) về du lịch.
• Bao gồm toàn bộ những yếu tố có liên quan đến quan hệ trao đổi, mua bán, cung – cầu được thể chế hóa. • Vai trò quyết định của khách du lịch tới phạm vi và tính chất của thị trường. Thị trường du lịch có thể được phân định dựa trên những khác biệt của các đối tượng khách du lịch. Thị trường khách du lịch quốc tế đến (Inbound) là thị trường khách du lịch từ những quốc gia khác đến du lịch tại nước chủ nhà.
Do vậy, người ta còn gọi đây là thị trường nhận khách. Phần lớn những quốc gia đang phát triển hay những quốc gia có tiềm năng phát triển du lịch đều coi đây là thị trường quan trọng nhất. Tuy nhiên thị trường khách du lịch quốc tế đến luôn luôn mang tính cạnh tranh cao. Trên phạm vi quốc tế, đó là sự cạnh tranh giữa các quốc gia với tư cách là những điểm đến thu hút khách du lịch.
Trên phạm vi quốc gia, đó là sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ du lịch. Thị trường khách du lịch quốc tế đi (Oubound) là thị trường khách du lịch xuất phát từ một quốc gia đến du lịch tại các quốc gia khác trên thế giới. Do vậy, thị trường này còn được gọi là thị trường gửi khách hoặc thị trường nguồn khách. Các nước phát triển là những thị trường gửi khách quan trọng.
Nhật Bản và Cộng đồng Châu Âu là những quốc gia (tổ chức) quan tâm nhiều 8 nhất tới thị trường khách đi của họ.Thị trường khách đi của một nước này sẽ là thị trường khách đến của một nước khác. Sự tồn tại tương đối độc lập của cả thị trường gửi khách và thị trường nhận khách trên phạm vi một quốc gia (hoặc một địa phương) thể hiện tính chất hai mặt của hoạt động du lịch. Một địa phương có thể vừa nhận khách vừa gửi khách. Sự tồn tại độc lập và song song của cả thị trường nhận khách và gửi khách trên một địa bàn đòi hỏi khi đề cập đến thị trường du lịch chúng ta phải chỉ rõ đó là thị trường gửi khách hay nhận khách.
Thị trường khách du lịch (hay nguồn khách du lịch) còn được phân loại theo những tiêu chí chi tiết hơn như động cơ du lịch (tham quan, nghỉ ngơi, chữa bệnh, mạo hiểm, hội nghị,vv…) hoặc theo thành phần lứa tuổi (du lịch dành cho người già, về hưu, vv…) hoặc theo mức độ sang trọng của dịch vụ sử dụng, những cách phân loại thường được áp dụng trong những trường hợp nghiên cứu thị trường theo những mục tiêu cụ thể. Đặc điểm nhân tố tác động tới nhu cầu và nguồn khách du lịch quốc tế Nhu cầu du lịch hay cầu du lịch là một một nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người. Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý và các nhu cầu tinh thần (nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định, nhận thức, giao tiếp) Hệ thống các nhu cầu về dịch vụ của khách du lịch tương đối đa dạng và phong phú nhưng tập trung lại có thể phân chia làm năm nhóm cơ bản sau đây: • Dịch vụ vận chuyển • Dịch vụ lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi tại các khách sạn, khu nghỉ mát • Dịch vụ tham quan du lịch • Dịch vụ mua sắm hàng hóa • Các dịch vụ đặc biệt như hội nghị, hội thảo, chữa bệnh, v.v Nhu cầu chính thường được hiểu là nhu cầu về vận chuyển, lưu trú (nghỉ, ngủ) và ăn uống, trong khi nhu cầu bổ sung bao gồm chủ yếu là hàng 9 lưu niệm, hàng hóa khác và dịch vụ bổ sung như vui chơi giải trí,v.v… Nhu cầu chính hay nhu cầu đặc trưng là những cầu về hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn động cơ đi du lịch của khách. Tất cả những phân loại trên đây chỉ mang tính chất tương đối.Tỷ trọng giữa các loại hàng hóa và dịch vụ có thể thay đổi phụ thuộc không chỉ vào động cơ đi du lịch mà còn cả biến động của mức giá hàng hóa và dịch vụ trên thị trường.
Như đã phân tích, nhu cầu du lịch chủ yếu là về các dịch vụ, do vậy nó mang đầy đủ những đặc điểm của nhu cầu dịch vụ. Trước hết đó là tính đồng thời thể hiện quá trình sản xuất diễn ra cùng một lúc (cả về thời gian và địa điểm) với quá trình tiêu thụ sản phẩm.Tính đồng thời là đặc trưng tiêu biểu của dịch vụ. Nó quy định mức độ tiếp xúc trực tiếp cao giữa khách hàng là những người sản xuất (cung cấp) dịch vụ. Bên cạnh những đặc điểm chung, nhu cầu du lịch mang những đặc điểm riêng của nó.
Sự cách biệt lớn về không gian giữa cung và cầu. Phần lớn khách du lịch (nhất là khách du lịch quốc tế) đều ở rất xa địa điểm du lịch. Khoảng cách này một mặt làm tăng chi phí đi lại của khách du lịch nhưng mặt khác nó cũng tạo ra một sức hút, lôi cuốn mạnh mẽ hơn. Hơn thế nữa, do các tài nguyên du lịch là cố định nên khách du lịch phải chủ động tìm đến các điểm du lịch tạo ra dòng chuyển động một chiều từ cầu đến cung trong du lịch, đây là một trong những điểm khó khăn lớn nhất của kinh doanh du lịch.
Cần phải mang tính chủ động hoàn toàn. Tính chất tổng hợp của nhu cầu. Nhu cầu du lịch có thể khái quát rằng đó là tất cả những nhu cầu hằng ngày (trừ nhu cầu làm việc) cộng thêm với nhu cầu phát sinh mới nhằm thỏa mãn động cơ đi du lịch.