mở đầu cho việc phát triển xây dựng các công trình nhà cao tầng với kết cấu tầng hầm phục vụ nhu cầu đổ xe, bể nước sinh hoạt, phòng cháy chữa cháy, xử lý nước thải,. Cho đến nay, cùng với việc phát triển công nghệ ngày càng cao, nhiều tổ hợp công trình thương mại, dịch vụ có tầng hầm đã được xây dựng và phát triển thành công ở rất nhiều nước như Nhật Bản, Mỹ, Đức, Pháp,. Hiện nay, khi đô thị hoá đã đạt trên 70%, 80% việc khai thác phát triển đô thị theo chiều cao đang có xu hướng bão hoà và hướng đến ngày một nhiều hơn đối với khả năng khai thác chiều sâu của đô thị. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá của nước ta ngày càng nhanh, hệ thống đô thị phát triển cả về số lượng, chất lượng và quy mô.
Đặc biệt là ở các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng,. tốc độ phát triển nóng tạo ra các áp lực về hạ tầng đô thị, nhà ở, văn phòng, giao thông đô thị và không gian công cộng trong đô thị. Quỹ đất bề mặt của các đô thị lớn đã ở tình trạng gần như cạn kiệt, các không gian xanh, không gian công cộng ngày càng bị thu hẹp, khiến người dân đô thị cảm thấy bức bối. Những điều này cộng với nhu cầu về tính văn minh, hiện đại và mỹ quan đô thị đã và đang đòi hỏi việc phát triển phải hướng đến khả năng tận dụng, phát triển song song cả về chiều cao lẫn chiều sâu của đô thị.
Trong đó, vấn đề về chiều cao đô thị đã được chú ý phát triển trong những năm gần đây nhưng vấn đề chiều sâu, vấn đề không gian ngầm thì dường như chưa được chú ý đến. Những điều này dẫn đến một thực trạng hết sức bất cập trong việc phát triển không gian ngầm đô thị – một xu thế tất yếu mà chúng ta phải tính toán đến. Những khó khăn, rủi ro trong quá trình thi công tầng hầm Khi thi công tầng hầm cho các công trình nhà cao tầng, một vấn đề phức tạp đặt ra là giải pháp thi công hố đào sâu trong khu đất chật hẹp liên quan đến các yếu tố kỹ thuật và môi trường. Thi công hố đào sâu làm thay đổi trạng thái ứng suất, biến dạng trong đất nền xung quanh khu vực hố đào và có thể làm thay đổi mực nước ngầm dẫn THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG.
Lưu hành nội bộ 5 đến nền đất bị dịch chuyển và có thể lún gây hư hỏng công trình lân cận nếu không có giải pháp thích hợp. Giai đoạn thiết kế tính toán hệ chống tạm không đủ khả năng chịu lực và bị biến hình gây mất ổn định, dẫn tới cả hố đào bị phá hoại. Quá trình giám sát, nghiệm thu các công việc liên quan đến tầng hầm như thi công cọc nhồi, tường vây, đào đất, lắp đặt hệ chống tạm, hệ neo ứng suất trước trong đất chưa thực sự đảm bảo và chuyên nghiệp dẫn đến việc không lường trước được những sự cố xảy ra cho công trình. Thi công tầng hầm công trình với đặc thù kỹ thuật rất phức tạp, đòi hỏi đội ngũ kỹ thuật phải có chuyên môn, kinh nghiệm thi công trong lĩnh vực này.
Từ đó, đưa ra những giải pháp tối ưu nhất, hạn chế tối đa những rủi ro cũng như đề xuất biện pháp khắc phục trong quá trình thi công tầng hầm cho công trình. Giới thiệu các biện pháp thi công tầng hầm được áp dụng phổ biến Việc xây dựng các công trình ngầm với nhiều mục đích khác nhau trong đất là một trong những vấn đề được các nhà khoa học, giới chuyên môn đặc biệt quan tâm trong những năm gần đây. Trong đô thị, với mật độ dày đặt của các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông. việc xây dựng các công trình ngầm và xây chen trở nên hết sức khó khăn.
Quá trình xây dựng các công trình ngầm thường kéo theo hiện tượng lún bề mặt, làm hư hỏng các công trình lân cận, sự mất an toàn cho chính bản thân công trình đang thi công. Giải pháp thi công nào đảm bảo ổn định và an toàn cho thành hố đào công trình ngầm cũng như các công trình lân cận là một câu hỏi, một thách thức thực sự trong thi công. Đã có nhiều biện pháp thi công đã và đang được thực hiện, đem lại hiểu quả nhất định và đáp ứng được mục tiêu đề ra. Dưới đây sẽ trình bày một số biện pháp giữ ổn định thành hố đào khi thi công hố đào sâu cho công trình ngầm đang được áp dụng phổ biến hiện nay.
Giải pháp cho hệ tường vây a. Tường vây bằng tường cừ thép Tường cừ thép thường được sử dụng rộng rãi làm tường chắn tạm trong thi công hố đào có chiều sâu từ 5-10 m, nhằm chống lại áp lực đất, nước., đảm bảo cho đất xung quanh hố đào được ổn định. Tường cừ thép có thể được hạ bằng búa đóng hoặc rung, ép xuống đất bằng các loại máy ép thủy lực. Hình dạng mặt cắt của cừ thép thường có dạng U, Z, H.
và được liên kết với nhau bằng các móc liên kết đặt biệt (me cừ), cừ thép thường có chiều dài từ 6-16 mét. THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 6 Hình 1. Sử dụng cừ thép làm tường chắn đất Ưu điểm: - Không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết.
- Ván cừ thép dể chuyên chở, dễ dàng hạ và nhổ. - Khi sử dụng máy ép thủy lực ít gây ra tiếng động lớn. - Sau khi thi công xong, ván cừ ít khi bị hư hỏng nên có thể sử dụng nhiều lần. - Tường cừ được hạ xuống đúng yêu cầu kỹ thuật có khả năng cách nước tốt.
- Có thể thi công đồng thời với các hạng mục khác của công trình, không bị gián đoạn kỹ thuật cho quá trình thi công. - Ít tốn nhân công, chủ yếu thực hiện bằng cơ giới. Nhược điểm: - Do điều kiện hạn chế về phương tiện chuyên chở và giá thành nên tường cừ thép thông thường chỉ sử dụng có hiệu quả khi hố đào có chiều sâu ≤ 7m. - Nước ngầm, nước mặt dễ dàng chảy vào hố đào qua các vị trí khe không đảm bảo liên kết giữa hai tấm cừ, các vị trí cừ góc.
Đây là nguyên nhân gây sụt lún, sụt đất lân cận hố đào và gây khó khăn cho quá trình thi công tầng hầm. - Quá trình rút cừ thường kéo theo một lượng đất đáng kể ra ngoài theo bụng cừ vì vậy có thể gây chuyển vị nền đất lân cận hố đào. - Ván cừ thép là loại tường mềm, khi chịu lực của đất nền thường biến dạng võng. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất gây nên sự cố hố đào.
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 7 - Thi công ép cừ nếu gặp phải các tầng địa chất có các hạt sỏi hoặc kết cấu bê tông nhỏ có đường kính lớn hơn 5cm sẽ rất khó thi công. Tường vây bằng tường cọc nhồi bê tông cốt thép đường kính nhỏ Sử dụng cọc khoan nhồi bê tông cốt thép đường kính nhỏ, thi công lồng vào nhau, sát nhau hoặc cách nhau những khoảng nhất định để chắn giữ thành hố đào. Sử dụng cọc bê tông cốt thép đường kính nhỏ làm tường chắn đất Ưu điểm: - Thi công ở các nơi không có áp lực ngang của nước như vách núi, đồi sẽ rất tốt.
- Giảm được công đoạn đúc sẵn cọc, xây dựng bãi đúc, lắp dựng ván khuôn, bốc xếp, vận chuyển, cẩu lắp. - Có thể xuyên qua tầng sét cứng, cát chặt ở giữa nền đất để xuống độ sâu lớn theo thiết kế. - Cho phép có thể trực quan kiểm tra các lớp địa chất bằng mẫu đất, đá lấy lên từ lỗ khoan. - Quá trình thi công cọc, dễ thay đổi các thông số của cọc (chiều dài, đường kính) so với bản vẽ thiết kế để phù hợp với thực trạng của nền đất được xác định chính xác hơn trong quá trình thi công.
Nhược điểm: - Tốn nhiều công định vị hàng cọc. - Mặt bằng thi công lầy lội, không thể thi công đồng thời với các hạng mục khác. - Phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết. - Đòi hỏi thiết bị thi công tốt, hiện đại, chi phí thi công cao, tốn nhiều nhân công.
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 8 - Khó kiểm tra khuyết tật và chất lượng cọc sau khi thi công. - Gián đoạn thời gian thi công từ 2-3 ngày. Tường vây bằng tường cọc xi măng đất Phương pháp dùng máy tạo cọc để trộn cưỡng bức xi măng với đất.
Lợi dụng phản ứng hóa học – vật lý xảy ra giữa xi măng với đất, làm cho đất mềm đóng rắn lại thành một thể cọc có tính tổng thể, tính ổn định và có cường độ nhất định. Sử dụng cọc xi măng đất làm tường chắn đất Ưu điểm: - Cọc xi măng đất là một trong những giải pháp xử lý nền đất yếu như làm tường hào chống thấm cho đê đập, gia cố nền đất xung quanh đường hầm, ổn định tường chắn, chống trượt đất mái dốc. - Sử dụng vật liệu sẵn có. - Thi công đơn giản, nhanh chóng.
- Có thể kiểm tra địa chất công trình trong khi khoan nhờ thiết bị tự động đo và ghi moment xoắn ở đầu khoan. - Ít gây tiếng ồn và ô nhiễm môi trường xung quanh. Nhược điểm: - Khả năng chịu uốn, cắt kém. - Diện tích bề mặt thi công lớn.
- Không thể thi công được ở địa chất có các lớp đá nhỏ hoặc cuội sỏi. - Khó kiểm tra khuyết tất và chất lượng cọc sau khi thi công. Tường vây bằng tường bê tông cốt thép Tường vây bê tông cốt thép đổ tại chỗ, còn gọi là tường trong đất, tường barrette, THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 9 thường dày 0,6m đến 1,8m, đa số chính là một bộ phận của công trình (tường tầng hầm).
Trong thi công, tường vây được sử dụng như là kết cấu để giữ ổn định hố móng sâu. Tường được thi công từ các tấm tường hình chữ nhật có chiều rộng thay đổi từ 2,8m đến 5,9m. Các đoạn tường vây được liên kết chống thấm bằng các gioăng cao su và làm việc đồng thời thông qua dầm đỉnh tường và dầm bo đặt áp sát tường phía bên trong tầng hầm.