Chương 1. Những vấn đề chung về hoạt động quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam. Thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế quận Kiến An, Hải Phòng. Biện pháp tăng cường quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế quận Kiến An, Hải Phòng.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI VIỆT NAM 1. Hộ kinh doanh cá thể 1. Khái niệm và đặc điểm hộ kinh doanh cá thể Theo Điều 49 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp hộ KDCT được định nghĩa như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.” Hộ KDCT có chủ hộ kinh doanh có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình, không có tư cách pháp nhân, không có con dấu riêng và phải chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân và hộ gia đình mình là chính.
Quy mô nhỏ lẻ, tản mạn, rời rạc, điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến hạn chế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hộ KDCT phát triển khá nhanh trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành nghề như sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ. Đặc điểm của hộ KDCT là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. Hoạt động mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, rất nhạy bén trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và nền kinh tế.
Có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc. Có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ, qua đó cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu. Vai trò của hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế Trong điều kiện kinh tế thị trường, hộ KDCT có một vai trò hết sức to lớn đó là tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, đồng thời đóng vai trò làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh tế trong quá trình phân phối, luân chuyển hàng hóa, dịch vụ. Thông qua các hộ KDCT có thể huy động được nguồn vốn lớn còn đang tiềm năng trong nhân dân cho nền kinh tế.
Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, tình trạng thất nghiệp đang ngày càng gia tăng thì chính việc thu hút một số lượng lao động đáng kể của hộ KDCT đã góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho xã hội đồng thời tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống cho người lao động. Tuy mức đóng góp của từng hộ KDCT không lớn nhưng với số lượng hơn ba triệu hộ KDCT cũng đã đóng một phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước. Mặc dù có vai trò hết sức quan trọng song thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một số mặt hạn chế đó là: Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất rất hạn chế. Sự năng động mang tính chất tự phát, luôn tìm những chỗ sơ hở để kinh doanh trái phép và trốn lậu thuế, gây khó khăn cho công tác quản lý.
Chính vì vậy cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt động có hiệu quả. Khái quát về thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam 1. Khái niệm chung về thuế, sắc thuế, bộ thuế Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách quốc gia. Nước nào cũng có những khoản chi ngân sách hàng năm.
Để tài trợ cho những khoản công chi đó, có 5 nguồn tài trợ chính sau: - Thuế, - Phát hành tiền tệ, - Phát hành công trái, 6 - Nhận viện trợ hoàn lại và vay, nợ của nước ngoài, - Nhận viện trợ không hoàn lại của nước ngoài. Trong đó thuế giữ vai trò quan trọng hơn cả, vì thuế có sự điều tiết chia sẻ và công bằng giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp đồng thời nói lên sức mạnh tự chủ về tài chính của một quốc gia. Vậy ta có thể hiểu: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.5] Sắc thuế là “một hình thức thuế cụ thể được quy định bằng một văn bản pháp luật, dưới hình thức luật, pháp lệnh hoặc các chế độ thuế”.19] Sổ bộ thuế: “Là hệ thống sổ của cơ quan thuế ghi chép thông tin, số liệu về căn cứ tính thuế và tiền thuế phải nộp ổn định trong kỳ của hộ khoán”. Chi cục trưởng Chi cục Thuế ký duyệt Sổ bộ thuế và chịu trách nhiệm về việc phân loại, xác định đối tượng thuộc diện nộp thuế hoặc không phải nộp thuế của hộ kinh doanh trên địa bàn.
Số tiền thuế trên Sổ bộ thuế sau khi được Lãnh đạo Chi cục Thuế ký duyệt được dùng làm căn cứ để hạch toán nghĩa vụ thuế phải thu của hộ kinh doanh trong kỳ và được ghi trong thông báo thuế gửi hộ kinh doanh. Sổ bộ thuế được cơ quan thuế lưu giữ theo chế độ quy định. Vai trò của thuế trong nền kinh tế a. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là Ngân sách Nhà nước.
Ngân sách Nhà nước được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng.Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu Ngân sách Nhà nước. Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hóa tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm. Hầu như mọi khoản chi tiêu của Ngân sách Nhà nước 7 đều dựa vào sự đóng thuế của người dân. Vì vậy, xã hội có trách nhiệm phải tôn trọng người nộp thuế, những người thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho Nhà nước một cách trực tiếp và gián tiếp.
Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng. Sự phát triển mọi mặt của đất nước là thành quả của nỗ lực của cả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định. Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư và gây ra bất ổn xã hội.
Chính vì vậy, Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải xã hội. Thuế là công cụ quan trọng của Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này. Việc điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt hay các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân. Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế.
Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất kinh doanh cũng như định mức chỉ tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có. Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà cơ sở sản xuất kinh doanh gặp phải để giúp đỡ họ tìm biện pháp tháo gỡ. Đồng thời, qua công tác thu thuế, cơ quan thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động 8 của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.
Theo quan điểm công bằng, bất cứ một tổ chức, cá nhân khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất nước mà Nhà nuớc có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn. Các sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh doanh cá thể 1. Thuế Môn bài Thuế môn bài là một loại thuế trực thu, được tính và thu vào đầu năm đối với các thể nhân, pháp nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh Về thời gian tính và nộp thuế môn bài: Hộ ra kinh doanh vào thời gian 6 tháng đầu năm thì nộp mức thuế môn bài cả năm, hộ ra kinh doanh vào 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức thuế môn bài cả năm.