Chương 1 LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM 1. Một số vấn đề lý luận về biện pháp tạm giam 1. Khái niệm biện pháp tạm giam Tạm giam là biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của PLTTHS. Đối với khái niệm biện pháp tạm giam được nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau: Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiệm trọng hay bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng theo quy định của pháp luật [50, tr.
Giáo trình Luật Việt Nam của Trung tâm Đào tạo từ xa Huế cho rằng: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự mà theo đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng trong những trường hợp nhất định có thể tước tự do đối với bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn tội phạm hoặc bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử [52, tr. Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra khái niệm: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, do việc tước bỏ quyền tự do thân thể trong một thời hạn tương đối dài so với biện pháp tạm giữ và các biện pháp ngăn chặn không tước quyền tự do thân thể khác [17, tr. Theo tác giả, các khái niệm trên đều có nhân tố hợp lý. Tuy nhiên, một số khái niệm vẫn cho rằng biện pháp tạm giam là tước tự do của bị can, bị cáo là không chính xác.
Bởi vì, việc quyết định tước tự do theo theo PLHS Việt Nam chỉ thuộc thẩm quyền của Tòa án và được thể hiện trong Bản án nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, còn Cơ quan điều tra, 7 luan an VKS đều không có quyền này. Một số khái niệm vẫn nhầm lẫn căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam là để “đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi”, đây không phải là mục đích chính của việc áp dụng BPTG mà chỉ là một “dạng” kết quả có được từ việc áp dụng tạm giam. Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp luật và tiếp thu quan điểm nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm biện pháp tạm giam như sau: Biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS do cơ quan, người có thẩm quyền TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo để cách ly họ khỏi xã hội trong khoảng thời gian nhất định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc những người này gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc tiếp tục phạm tội. Đặc điểm và căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam *Đặc điểm: - Tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong PLTTHS Việt Nam, ảnh hưởng đến nhiều quyền và lơi ích của cá nhân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại, quyền hội họp, tiếp xúc …với thời gian áp dụng dài hơn nhiều so với các biện pháp ngăn chặn khác.
- Tạm giam mặc dù là BPNC nghiêm khắc nhất nhưng tạm giam không phải là hình phạt tù bởi vì mục đích của tạm giam là ngăn chặn tội phạm và hành vi phạm tội …còn hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước do Tòa án áp dụng nhằm trừng trị và giáo dục người phạm tội đã bị kết án. - Tạm giam là biện pháp có tính chất lựa chọn, không phải bắt buộc áp dụng cho mọi bị can, bị cáo ngay cả khi đã có đủ căn cứ mà căn cứ chỉ là điều kiện để áp dụng tạm giam. - Tạm giam là BPNC tạm thời cách ly người bị áp dụng (bị can, bị cáo) do Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp do luật định. Thời hạn tạm giam phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng cũng 8 luan an như tính chất phức tạp của vụ án mà bị can, bị cáo thực hiện và cũng theo quy định của pháp luật.
*Căn cứ áp dụng: Thứ nhất, đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn như bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng vi phạm nghĩa vụ theo luật định.thì cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam. Đối với bị can, bị cáo có biểu hiện tiếp tục phạm tội thì việc áp dụng biện pháp cách li họ với xã hội hoặc hạn chế các điều kiện để họ không thể tiếp tục phạm tội là rất cần thiết. Thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Hành vi gây khó khăn cho hoạt động này được thể hiện qua việc sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn, đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vẫn vi phạm… dẫn đến việc xác định sự thật của vụ án sẽ gặp nhiều khó khăn, có trường hợp làm thay đổi hoàn toàn bản chất của vụ án từ có tội thành vô tội.
Thứ ba, để đảm bảo thi hành án Công tác thi hành án hình sự nhằm thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án. Đây là việc vô cùng quan trọng, nhằm đảm bảo tính hiệu quả, nghiêm minh của pháp luật. Khi cần đảm bảo thi hành án, tùy theo tính chất cụ thể của từng vụ án, tùy theo nhân thân của người bị kết án để áp dụng BPNC phù hợp, nếu có căn cứ chứng tỏ rằng bị cáo có thể trốn thì để bảo đảm công tác thi hành án cần áp dụng biện pháp tạm giam ngay, vì đây là biện pháp hữu hiệu nhất. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp tạm giam 1.
Mục đích của biện pháp tạm giam Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm mục đích chung gồm: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm; Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử; Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội; Để bảo đảm thi hành án. Tạm giam còn có mục đích riêng tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng, nhưng tựu trung lại đó là: nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng tố tụng của Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án. Việc áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Cơ quan điều tra tiến hành nhiều biện pháp nghiệp vụ nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can vào bất cứ khi nào thấy cần thiết mà không phải mất thời gian triệu tập nhiều lần, giúp cho việc quản lý, giám sát bị can được chặt chẽ. Đây cũng chính là biện pháp đánh mạnh vào tư tưởng chống đối, ngoan cố của bị can, tạo thuận lợi cho Cơ quan điều tra, VKS có thể triển khai được nhiều biện pháp nghiệp vụ khác để làm sang tỏ vụ án.
Có thể nói đây kết quả có được từ việc áp dụng tạm giam. - Việc tạm giam bị cáo sau khi tuyên án nhằm đảm báo cho việc thi hành án có hiệu lực pháp luật được hiệu quả, thuận lợi. Ý nghĩa của biện pháp tạm giam Có thể nói với đặc trưng và tầm quan trọng của mình, tạm giam có một ý nghĩa rất lớn trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt trong gia đoạn hiện nay, nhiều vụ án phức tạp, nếu không áp dụng biện pháp tạm giam rất khó khăn trong việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. - Tạm giam thể hiện sự kiên quyết của nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần đảm bảo cho trật tự xã hội được ổn định.
- Tạm giam bảo đảm quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo vệ. Thể hiện tính ưu việt của nhà nước XHCN. 10 luan an - Tạm giam bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án được thuận lợi, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. - Tạm giam chỉ được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp nhất định khi có căn cứ pháp luật nên đã đảm bảo sự dân chủ, tôn trọng quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp quy định như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú… Đảm bảo không một công dân nào bị tạm giam trái pháp luật, khi áp dụng biện pháp tạm giam không đúng pháp luật quy định, công dân có quyền khiếu nại đến các chủ thể có thẩm quyền.
Khái quát lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp tạm giam 1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 có hiệu lực pháp luật Tạm giam giai đoạn này được quy định không tập trung, thể hiện trong nhiều văn bản khác nhau: Điều 11 Hiến pháp 1946, Hiến pháp đầu tiên của nhà nước ta, quy định: “Tư pháp chưa quyết định, thì không bắt bớ và giam cầm người công dân” [20]. Theo quy định này thì quyền bắt bớ và giam cầm người công dân sẽ thuộc về cơ quan tư pháp, tức là Tòa án các cấp. Theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về Tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán thì thẩm quyền tạm giam thuộc về các Thẩm phán.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội sau hiệp định Gionevơ.