phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được trình bày theo 3 Chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác thiết bị dạy học Chƣơng 2: Thực trạng thiết bị dạy học và quản lý công tác thiết bị dạy học tại Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội và Khoa Sư phạm – Trường Đại học Cần Thơ Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý công tác thiết bị dạy học tại các cơ sở đào tạo giáo viên thụ hưởng Dự án Phát triển giáo viên Trung học phổ thông và Trung cấp chuyên nghiệp. 11 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC THIẾT BỊ DẠY HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đổi mới phương pháp giảng dạy là một vấn đề nhạy cảm và đang rất được quan tâm không chỉ riêng trong ngành giáo dục mà còn đang trở thành một vấn đề xã hội hiện nay. Trong việc đỏi mới phương pháp dạy học thì thiết bị dạy học là yếu tố đặc biệt quan trọng.
TBDH vừa là nguồn tri thức, vừa là phương tiện chứa đựng truyền tải thông tin và điều kiện hoạt động nhận thức của học sinh. Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục về phương tiện dạy học và thiết bị dạy học như Komenski (Tiệp Khắc), Usinski; A. Leontiev (Xô Viết) hay nhà giáo dục J.Pestalossi người Thụy Sĩ đã phát triển quan điểm dạy học trực quan để đạt hiệu quả cao. Thừa kế và phát huy những lý thuyết về giáo dục của nền giáo dục học thế giới, Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về phương tiện dạy học, thiết bị dạy học cũng như về quản lý việc khai thác, sử dụng chúng.
Về vấn đề này, có thể kể đến các nhà khoa học tiêu biểu đã phát triển và truyền bá lý luận về nguyên tắc dạy học trực quan như Tô Xuân Giáp, Trần Đức Vượng. Tuy nhiên, vấn đề TBDH đã được nghiên cứu trên nhiều bình diện, nhưng ở góc độ quản lý thì vẫn còn ít tác giả đề cập đến. Trên nguyên tắc bám sát các định hướng, chủ trương của Đảng và Nhà nước, kế thừa nghiên cứu của các tác giả đi trước, tôi sẽ tìm hiểu thực trạng TBDH và quản lý công tác TBDH tại các cơ sở đào tạo giáo viên và đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý TBDH, công tác TBDH trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài.
Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiế n thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn ; giáo dục nhà trường kế t hơ ̣p với giáo dục gia 12 z đình và giáo du ̣c xã hội. Bởi vậy, hiện nay cơ sở vật chất và thiết bị dạy học được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ dạy - học và nghiên cứu khoa học. Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển và nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục, đào tạo.
Đầu tư hợp lí, có hiệu quả xây dựng một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế” [2]. Theo Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020, một trong những bất cập và yếu kém của giáo dục là “nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi, kiểm tra, đánh giá chậm được đổi mới. Nội dung chương trình còn nặng về lí thuyết, phương pháp dạy học lạc hậu, chưa phù hợp với đặc thù khác nhau của các loại hình cơ sở giáo dục, vùng miền và các đối tượng người học” đồng thời “Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường còn thiếu và lạc hậu. Vẫn còn tình trạng phòng học tạm tranh tre, nứa lá ở mầm non và phổ thông, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và các phương tiện dạy học chưa đảm bảo về số lượng, chủng loại và chất lượng so với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là ở các trường đại học.
Mục tiêu tổng quát phát triển giáo dục đến năm 2020 là: nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập. Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học trong nhà trường là yếu tố quan trọng bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học. Bởi vậy 13 z theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, Nhà nước sẽ đầu tư ngân sách có trọng điểm, từng bước chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính và phương tiện dạy học tối thiểu của tất cả các cơ sở giáo dục; tăng cường thành một hệ thống đồng bộ nhằm góp phần chuyển từ nên giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa. Để đạt được mục đích trên, song song với việc tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, các cơ sở đào tạo cần phải tăng cường công tác quản lý cơ sở vật chất, thiết bị nhằm sử dụng một cách hiệu quả và tiết kiệm.
Khái niệm về quản lý Định nghĩa kinh điển và đơn giản nhất về hoạt động quản lý là: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đich của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7]. Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. [7] Quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có thể là hệ thống “người-người”, có thể là hệ thống “người-vật”. Mô hình hóa mối quan hệ quản lý [6]: Sơ đồ 1.
Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý 14 z a. Mối liên hệ thông tin thuận b. Mối liên hệ thông tin ngược (ngoài) b’. Mối liên hệ thông tin ngược (trong) nó phản ánh khả năng tự điều chỉnh.
Các chức năng quản lý là biểu hiện bản chất của quản lý gồm bốn chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau là: Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra, đánh giá. Các chức năng này tạo thành chu trình quản lý. Ngoài ra còn một chức năng trung tâm là “thông tin”, chức năng này có quan hệ với tất cả các chức năng khác. Mối quan hệ giữa các chức năng có thể được mô tả như sơ đồ sau: Kế hoạch.
quản lý Kiểm tra, Tổ chức đánh giá Thông tin Quản lý Chỉ đạo Sơ đồ 1. Các chức năng trong chu trình quản lý a. Lập kế hoạch Lập kế hoạch có nghĩa là xác định mục đích, mục tiêu đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức, các nguồn lực… để đạt được mục đích, mục tiêu đó. Có 3 nội dung chủ yếu: - Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức; - Xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu; - Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó.
15 z Lập kế hoạch thực chất là bắc nhịp cầu nối trạng thái hiện tại với trạng thái mong muốn trong tương lai. Tổ chức Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả và có kết quả.
Lãnh đạo - Chỉ đạo Khái nhiệm lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Việc lãnh đạo không phải chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch, thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó diễn ra đồng thời và ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia. Kiểm tra, đánh giá Kiểm tra và đánh giá là chức năng cuối cùng của chu trình quản lý. Thông qua kiểm tra, một cá nhân hay một nhóm người, hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết.
Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh. Đó cũng là tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kì như sau: - Người quản lý đạt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động; - Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra; - Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch; - Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại những chuẩn mực nếu cần. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội. Tùy vào việc xác định đối tượng quản lý mà có các cấp độ khác nhau.