phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý đội ngũ viên chức hành chính ở mô ̣t cơ sở giáo dục và đào tạo Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ viên chức hành chính tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý đội ngũ viên chức hành chính tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương 12 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC HÀNH CHÍNH Ở MỘT CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1. Các khái niệm công cụ và lí luận cơ bản 1. Quản lý Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm, để thực hiện mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì cách quản lý đã là một yếu tố cần thiết để đảm bảo sự phối hợp của những cá nhân. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhóm, các hệ thống tổ chức ngày càng qui mô, trở nên rộng lớn hơn, phức tạp hơn, cho nên nhiệm vụ quản lý ngày càng quan trọng.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, mục đích của hoạt động quản lý nhằm tăng năng suất lao động, cải tạo cuộc sống. Để đạt được mục tiêu trên cơ sở kết hợp các yếu tố con người, phương tiện… thì cần có sự tổ chức và điều hành chung, đó chính là quá trình quản lý. Trải qua quá trình phát triển, cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ tổ chức và theo đó, các nhiệm vụ và chức năng quản lý cũng được từng bước nâng lên. Hiện nay vẫn còn tồn tại khá nhiều những khái niệm, định nghĩa về quản lý.
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả người Mỹ H.Kootz đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích theo nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật; còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” (Đặng Quốc Bảo, 2010). 13 z Xét trên quan điểm chính trị xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2009).
Tác giả Phạm Khắc Chương (dẫn theo Đặng Quốc Bảo, 2007) khái quát về vấn đề quản lý như sau: “Quản lý là một khái niệm ghép giữa “quản” và “lý” ”. Khái niệm “Quản” bao hàm nhiều ý nghĩa phong phú: cai quản, thống trị, giữ gìn, theo dõi… Dưới góc độ điều khiển, “quản” có thể hiểu là lái, điều khiển, chỉ huy, kiểm soát… Trong khi đó nội hàm “lý” dưới góc độ khoa học, chính là cách để nâng cao hiệu quả hoạt động “quản” (một cách hợp lí). Xét về bản chất, quản lý là một hoạt động xã hội rất đặc thù, tồn tại trong các thiết chế xã hội, các tổ chức hoạt động được vận hành trong mọi thời đại. Bản chất của quản lý bao gồm những yếu tố sau: - Là một loại lao động để điều khiển lao động; - Là một hoạt động có tính khoa học và nghệ thuật nhằm tác động vào hệ thống có hướng đích, có mục tiêu xác định; - Thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
Tuy nhiên, trong thực tiễn quản lý vẫn tồn tại các cơ hội và khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại; - Tính hướng đích cuối cùng của quản lý bao giờ cũng là việc quản lý con người; Là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với qui luật khách quan; Quá trình thực hiện quản lý chính là việc triển khai những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, 14 z đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát. Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó; điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận. Có thể nhận định rằng: Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
Quản lý là một hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý. Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi… được thể hiện trong các mặt đối lập của một hệ thống trọn vẹn, có chỉnh thể thống nhất. Đó là biện chứng và bản chất của hoạt động quản lý. Tóm lại, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát: quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý.
Chức năng của quản lý Trong thực tế hoạt động quản lý được vận hành một cách có hệ thống, khoa học, linh hoạt trên cơ sở hành chức của mình. Chức năng quản lý là nội dung, phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý một cách hiệu quả thông qua quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý tuy chưa thật đồng nhất, về cơ bản các nhà khoa học đều khẳng định 4 chức năng quản lý cơ bản đó là: - Lập kế hoạch; - Tổ chức; - Chỉ đạo điều hành; - Kiểm tra đánh giá việc thực hiện. 15 z Chức năng lập kế hoạch: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý.
Từ trạng thái xuất phát của hệ thống, căn cứ vào mọi nguồn lực, tiềm năng đã có và sẽ có, dự báo trạng thái kết thúc của hệ thống, vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và các biện pháp lớn nhỏ nhằm đưa hệ thống đến trạng thái “đích mong muốn” vào thời điểm đã định theo kế hoạch. Chức năng tổ chức: Là giai đoạn tiếp theo, tổ chức thực hiện kế hoạch đã được xây dựng. Tổ chức là sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, nguồn lực, bộ phận nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch. Nếu người quản lý biết cách tổ chức có hiệu quả, có khoa học thì sẽ phát huy được sức mạnh của tập thể để đạt “đích mong muốn” một cách hiệu quả nhất.
Chức năng chỉ đạo: Là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, nhấn mạnh đến phương thức tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý, điểu hành mọi việc nhằm đảm bảo cho hệ thống vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là biến mục tiêu quản lý thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực (theo cách mà chủ thể quản lý cho là hợp lý và hiệu quả). Chức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện: Đây là giai đoạn cuối cùng của một chu kì quản lý, đồng thời tạo tiền đề cho chu kì tiếp theo của hoạt động quản lý trong thực tế. Bằng việc đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa chữa… quá trình này sẽ cung cấp các thông tin cần thiết để thúc đẩy hệ đạt được những mục tiêu, dự kiến ban đầu và bổ sung điều chỉnh và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo.
Một cách khái quát có thể khẳng định: công tác quản lý được triển khai nhằm hướng đến mục đích đảm bảo sự phát triển bền vững của một tổ chức, một hệ thống. Công tác quản lý đội ngũ cũng nhắm đến mục đích là phát triển đội ngũ theo hướng đảm bảo chất lượng, hiệu quả đóng góp vào sự phát triển chung của chính tổ chức đó. Phát triển và phát triển đội ngũ Theo Từ điển tiếng Việt (2005), phát triển là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”. Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ.
Theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật hiện tượng và con người trong xã hội. Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên. Tác giả Đặng Bá Lãm cho rằng: “phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ biến mất và cái mới ra đời. Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao.
Còn cái cao là cái thấp đã phát triển” (Đặng Bá Lãm, 2009). Tóm lại, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội biến đổi để tăng tiến về số lượng, chất lượng dưới dạng tác động của bên trong hoặc bên ngoài đều được coi là sự phát triển. Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “đội ngũ là một tập hợp số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng”. Dưới giác độ lý thuyết về tổ chức và quản lý, tác giả Đặng Quốc Bảo khái quát khái niệm “đội ngũ” như một “tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc chung của tổ chức” (Đặng Quốc Bảo, 2007).