phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu trưởng quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng công tác chủ nhiệm và công tác quản lý giáo viên chủ nhiệm của hiệu trưởng tại trường Trung học phổ thông Đình lập, tỉnh Lạng Sơn. Chƣơng 3: Biện pháp của hiệu trưởng về quản lí đội ngũ giáo viên chủ nhiệm tại trường trung học phổ thông Đình Lập, Tỉnh Lạng Sơn. 13 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU TRƢỞNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Khi đề cập đến công tác chủ nhiệm đã có một số tài liệu, công trình nghiên cứu , tìm hiểu , phân tích mà có thể kể đến các công trình như sau: + Giáo dục học 2004 (chương XVI, Người GVCNL) của Phạm Viết Vượng. + Phương Pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên). Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2004. Trong các tài liệu này đã cơ bản đề cập khá chi tiết về vị trí, vai trò,chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu ở trình độ thạc sĩ, đã có một số tác giả nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT như : tác giả Nguyễn Xuân Tuyên (2004) với đề tài "Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Trung học phổ thông ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay". Tác giả Ngô Thị Chuyên (2008) với đề tài “Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông huyện Mạc Đĩnh Chi quận Dương Kinh”. Tác giả Trần Thị Phương Mai (2009) “Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng thương mại và du lịch Hà Nội”; Các luận văn này cũng đã đề cập đến vị trí, vai trò,chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT… đưa ra các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT song mới chỉ dừng lại ở mức khái quát chung công tác quản lý đội ngũ GVCNL của Hiệu trưởng, chưa đi sâu phân tích vai trò và nhấn mạnh các biện pháp quản lý công tác GVCNL của người hiệu trưởng ở trường THPT. Vấn đề 14 z quản lý công tác GVCNL trong trường THPT thường được hiệu trưởng các trường THPT quan tâm, song nó chỉ tồn tại ở dạng những kinh nghiệm trên báo cáo sơ kết, tổng kết năm học của các nhà trường.
Như vậy, cho đến nay, theo những tài liệu mà chúng tôi có được vẫn còn thiếu những công trình đề cập đến các biện pháp quản lý công tác GVCNL ở trường THPT Đình lập tỉnh Lạng sơn một cách đầy đủ và hệ thống. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu hơn để xác định cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác GVCNL góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường THPT Đình lập đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường.
Khái niệm quản lý Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa lại do sự khác biệt của thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích, cách hiểu khác nhau. Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên phong phú, đa dạng.Taylor (1856-1915), “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [21, tr.Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lự hoạt động cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [21, tr.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” [27, tr. Theo từ điển Tiếng Việt: thuật ngữ “Quản lý” được xác định là: “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [41.
Theo nghĩa Hán Việt: Quản lý = Quản + lý, là sự duy trì + sự đổi mới. Trong “Quản” (giữ) có “Lý” (chỉnh sửa) trong “Lý” (chỉnh sửa) có “Quản” (giữ), quản lý là quá trình có tính thống nhất biện chứng hai vấn đề “Quản” và “Lý”. Trong “Quản” phải có “Lý” thì toàn bộ hệ thống, tổ chức mới phát triển được, trong “Lý” phải có “Quản” thì sự phát triển đó mới ổn định bền vững. Hai quá trình này phải được gắn bó chặt chẽ với nhau thì toàn hệ mới đạt thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu tố bên trong và bên ngoài.tr 1] Quản lý mang tính lịch sử- xã hội cao, các quan niệm, mô hình, tính chất phương thức quản lý chuyển đổi theo sự phát triển của đời sống xã hội.
“Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các danh mục trên đề ra một cách hiệu quả nhất” [21. Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Các tác giả cũng khẳng định, hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn là : “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [28, tr. Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau : + Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể 16 z quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý.
tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần. + Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. +Tác động của chủ thể phải có kế hoạch và có tính mục đích. + Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội).
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Như vậy, có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. Quản lý vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, quản lý được xem là một nghề nhằm dẫn dắt trong một hoàn cảnh nhất định, một nhóm người, để đạt được các mục tiêu phù hợp với mục đích của tổ chức.
Quản lý giáo dục Khái niệm QLGD có nhiều cách định nghĩa khác nhau: P.khuđôminxky cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD và ĐT đến trường học) nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đặc biệt sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về giáo dục của sự phát triển cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em” [21, tr. 17 z Quan niệm của tác giả Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằmđẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội" [4, tr. Tác giả Trần Kiểm khẳng định QLGD được phân chia thành hai cấp: quản lý vĩ mô và quản lý vi mô. Đối với cấp vĩ mô: "Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục".
Đối với cấp vi mô: "Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường" [42, Tr. Cũng như quản lý nói chung, QLGD là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QLGD lên đối tượng nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra. Nhưng QLGD không đơn thuần là những tác động theo một hướng.