Tổng quan nghiên cứu

Ngành dệt may Việt Nam giữ vị trí mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 24,8% mỗi năm, thu hút từ 2,5 triệu lao động năm 2005 lên đến gần 5 triệu lao động vào năm 2010 và mang lại kim ngạch xuất khẩu 8 đến 9 tỷ USD. Để duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật công nghệ may có tay nghề cao, vững vàng kỹ năng thực hành trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 37/2004/QH10 của Quốc hội, chất lượng đào tạo kỹ năng nghề tại các trường chuyên nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu khắt khe của doanh nghiệp.

Xuất phát từ thực tế đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp, luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và xây dựng hệ thống biện pháp quản lý dạy học thực hành cho sinh viên hệ cao đẳng ngành Công nghệ May. Mục tiêu cụ thể là chuẩn hóa quy trình quản trị quá trình dạy học thực hành, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức giảng dạy đến kiểm tra đánh giá, nhằm nâng cao năng lực thực hành nghề nghiệp cho người học.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Dệt may và Da giầy thuộc Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp trong mốc thời gian năm 2009 - 2010, tập trung vào 29 đơn vị học trình thực tập nghề nghiệp trong tổng số 149 đơn vị học trình của chương trình đào tạo cao đẳng. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp giải pháp giảm tỷ lệ sinh viên phải đào tạo lại sau tuyển dụng xuống dưới mức 20%, đồng thời nâng tỷ lệ sinh viên đạt chuẩn kỹ năng tay nghề loại giỏi lên trên 35% ngay khi tốt nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý giáo dục hiện đại của các học giả chuyên ngành như M. Kônđacốp, Giáo sư Trần Kiểm và Nguyễn Ngọc Quang, kết hợp cùng lý luận dạy học nghề chuyên ngành kỹ thuật. Hệ thống lý thuyết xác lập 4 chức năng quản lý cốt lõi gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo điều hành và kiểm tra đánh giá. Mô hình quản trị quá trình dạy học thực hành được cấu trúc hóa theo dạng tứ diện đều, trong đó trọng tâm là mục tiêu nâng cao chất lượng kỹ năng thực hành nghề may, bốn đỉnh tương ứng với 4 nhân tố tác động: quy định pháp lý đào tạo, bộ máy tổ chức nhân lực, nguồn lực cơ sở vật chất và nội dung chương trình môn học.

Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa làm nền tảng phân tích gồm:

  • Quản lý nhà trường: Hệ thống những tác động sư phạm có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể sư phạm, sinh viên và nguồn lực đào tạo nhằm hiện thực hóa mục tiêu giáo dục.
  • Dạy học thực hành nghề: Quá trình sư phạm đặc thù kết hợp tức thời giữa lý thuyết và thực tiễn sản xuất nhằm rèn luyện hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, hình thành tác phong công nghiệp cho sinh viên tại hệ thống xưởng máy.
  • Năng lực thực hành ngành may: Khả năng vận hành thiết bị công nghiệp, thực hiện chuẩn xác các công đoạn thiết kế mẫu, cắt may lắp ráp sản phẩm và tổ chức dây chuyền sản xuất may mặc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu mục đích để khảo sát toàn diện 42 cán bộ quản lý và giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy thực hành tại 2 cơ sở đào tạo của nhà trường ở Nam Định và Hà Nội. Cỡ mẫu N = 42 đại diện cho toàn bộ đội ngũ chuyên môn của Khoa Dệt may và Da giầy.

Hệ thống phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu bao gồm:

  • Phương pháp điều tra bảng hỏi: Sử dụng phiếu khảo sát cấu trúc hóa theo thang đo mức độ cần thiết và mức độ thực hiện đối với các nội dung quản lý chuyên môn.
  • Phương pháp quan sát sư phạm và phỏng vấn sâu: Dự giờ trực tiếp tại các ca học ở xưởng may quy mô 100 máy may công nghiệp; phỏng vấn sâu giảng viên và sinh viên về học phần thực tập chuyên sâu.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý dữ liệu định lượng qua phần mềm thống kê để tính tần số xuất hiện, tỷ lệ phần trăm và xếp hạng thứ bậc ưu tiên.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp định tính và định lượng là nhằm bảo đảm tính khách quan của các chỉ số đánh giá, phản ánh chính xác khoảng cách giữa nhận thức lý luận và thực tiễn triển khai trong giai đoạn nghiên cứu 2009 - 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng quản lý dạy học thực hành tại Khoa Dệt may và Da giầy ghi nhận những kết quả nổi bật:

Thứ nhất, cơ cấu chương trình đào tạo cao đẳng may gồm 149 đơn vị học trình, trong đó khối lượng thực hành và bài tập lớn chỉ chiếm 29 đơn vị học trình, tương đương khoảng 19,46% toàn khóa. Thời lượng phân bổ cho thực hành còn quá thấp so với 65 đơn vị học trình lý thuyết chuyên môn và cơ sở ngành.

Thứ hai, định mức thời gian cho các bài thực hành phức tạp chưa tương thích với năng lực tiếp thu của người học. Điển hình tại học phần Thực tập 5 Cắt may bộ veston cơ bản có thời lượng quy định 120 giờ, nhưng thực tế sinh viên chỉ có 90 giờ thao tác máy trong 3 tuần. Thực tế cho thấy sinh viên có nhận thức khá cần khoảng 5 tuần (tương đương 200 giờ) và sinh viên trung bình cần tới 9 đến 10 tuần mới hoàn thành sản phẩm đạt chuẩn phom dáng.

Thứ ba, cơ cấu đội ngũ giảng viên gồm 35 người cho thấy sự mất cân đối về trình độ sau đại học: chỉ có 14,28% giảng viên đạt trình độ Thạc sĩ (5 người, chưa đúng chuyên ngành may chuyên sâu), 85,72% có trình độ Đại học (30 người). Dù 100% giảng viên đạt chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm bậc II và 57,14% có thâm niên công tác từ 11 đến 20 năm, kỹ năng tiếp cận công nghệ tự động hóa may hiện đại vẫn còn hạn chế.

Thứ tư, kết quả khảo sát 42 cán bộ và giảng viên chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa nhận thức và thực thi. Hoạt động kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm thực hiện chương trình có 64,28% ý kiến nhận định là rất cần thiết (xếp thứ 3), nhưng mức độ thực hiện hiệu quả trong thực tế chỉ đạt 38,1% (xếp thứ 4/4 tiêu chí khảo sát).

Thảo luận kết quả

Thực trạng bất cập nêu trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong khâu tổ chức thực hiện và kiểm tra điều chỉnh. Mô hình lớp thực hành kỹ thuật viên chiếm tới 70% tổng số tuần thực tập nhưng không được chia nhỏ nhóm (sĩ số lên tới 30 - 50 sinh viên/lớp), dẫn đến việc giảng viên chỉ kịp hướng dẫn bao quát, sinh viên đứng lớp ngoài không quan sát được thao tác mẫu chuẩn xác.

Để biểu diễn trực quan các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu khảo sát có thể được thể hiện qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ % mức độ cần thiết so với mức độ thực hiện của 4 nội dung quản lý cốt lõi. Sự chênh lệch lên đến 30,96% ở khâu xây dựng kế hoạch đào tạo (76,19% cần thiết so với 45,23% thực hiện) và 26,18% ở khâu kiểm tra đánh giá (64,28% so với 38,1%) phản ánh chu trình quản lý PDCA chưa khép kín, làm suy giảm hiệu lực quản trị học tập.

So sánh với các nghiên cứu quản lý giáo dục nghề nghiệp cùng thời kỳ, sự thiếu hụt kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp sản xuất là nguyên nhân trực tiếp khiến sinh viên bỡ ngỡ trước trang thiết bị tự động tại các nhà máy may công nghiệp. Việc nâng cấp trường lên đại học từ năm 2007 đòi hỏi nhà trường phải tái cấu trúc toàn diện mục tiêu dạy học thực hành theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát và định hướng phát triển trường đại học định hướng ứng dụng, 4 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ được đề xuất:

  1. Đổi mới mục tiêu và cấu trúc chương trình dạy học thực hành: Ban Giám hiệu cùng Hội đồng Khoa học Khoa rà soát, tái cấu trúc khung 149 đơn vị học trình, tăng tỷ trọng khối lượng thực tập từ 19,46% lên 35 - 40% trong lộ trình 12 tháng. Phân chia lại thời lượng các module khó như may veston, thiết kế rập CAD/CAM nhằm đảm bảo 100% sinh viên có đủ thời gian hoàn thiện kỹ năng thao tác.

  2. Chuẩn hóa quy trình tổ chức lớp học tại xưởng thực hành: Phòng Đào tạo phối hợp Khoa Dệt may - Da giầy ban hành quy định giới hạn sĩ số thực hành tối đa 15 đến 18 sinh viên cho mỗi giảng viên phụ trách trên hệ thống 100 máy may. Áp dụng quy trình giảng dạy tích cực 4 bước: chuẩn bị dụng cụ, thị phạm thao tác mẫu, giám sát luyện tập độc lập và đánh giá sản phẩm theo bảng kiểm chuẩn kỹ thuật.

  3. Đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giảng viên dạy thực hành: Phòng Tổ chức cán bộ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng định kỳ giai đoạn 2011 - 2015, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ giảng viên có trình độ Thạc sĩ chuyên ngành lên trên 50% (từ mốc 14,28% năm 2010). Yêu cầu 100% trong tổng số 35 giảng viên phải tham gia thực tế sản xuất tại doanh nghiệp may xuất khẩu ít nhất 1 tháng mỗi năm.

  4. Mở rộng liên kết doanh nghiệp và đổi mới quản trị cơ sở vật chất: Thiết lập thỏa thuận hợp tác đào tạo chiến lược với 10 đến 15 doanh nghiệp dệt may lớn trong khu vực Hà Nội và Nam Định. Huy động nguồn vốn đầu tư trang bị thêm các dòng máy chuyên dùng hiện đại, đưa sinh viên đi thực tập dây chuyền công nghiệp thực tế từ 4 đến 6 tuần trước khi tốt nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và giải pháp trong luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường cao đẳng, đại học kỹ thuật: Tài liệu cung cấp khung lý luận và công cụ khảo sát thực trạng toàn diện, hỗ trợ công tác quản trị chương trình đào tạo nghề nghiệp và tối ưu hóa vận hành hệ thống xưởng thực hành 100 máy may.
  • Giảng viên chuyên ngành Công nghệ may và Dệt may: Giảng viên có thể khai thác bảng quy trình phân tích thao tác mẫu, phương pháp phân chia thời lượng giảng dạy học phần thực tập may veston và bộ tiêu chí kiểm tra đánh giá kỹ năng tay nghề.
  • Doanh nghiệp may mặc và cán bộ nhân sự ngành thời trang: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về năng lực đầu ra của cử nhân cao đẳng may, từ đó xây dựng cơ chế phối hợp đào tạo đặt hàng và tiếp nhận thực tập sinh hiệu quả.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc đề tài quản lý quá trình dạy học thực hành với cỡ mẫu N = 42 cùng phương pháp xử lý số liệu định lượng chi tiết.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn lớn nhất trong quản lý dạy học thực hành ngành may tại trường là gì? Điểm nghẽn chính nằm ở việc phân bổ thời gian thực hành quá ít, chỉ chiếm 29 trên tổng số 149 đơn vị học trình toàn khóa (khoảng 19,46%), cùng với việc tổ chức lớp thực tập kỹ thuật viên quá đông (30 - 50 sinh viên), khiến giảng viên khó theo sát uốn nắn từng thao tác tay nghề.

Tại sao học phần thực tập cắt may Veston cơ bản cần phải điều chỉnh thời lượng? Môn học có thời lượng danh nghĩa 120 giờ nhưng thời gian thực hành máy thực tế chỉ còn 90 giờ trong 3 tuần. Cắt may veston đòi hỏi kỹ thuật phức tạp như ép phom, ráp cổ, khâu lót, đòi hỏi sinh viên trung bình phải mất 200 đến 400 giờ luyện tập mới hoàn thiện sản phẩm đạt chuẩn.

Thực trạng trình độ của 35 giảng viên Khoa Dệt may và Da giầy năm 2010 như thế nào? Tại thời điểm nghiên cứu, khoa có 35 giảng viên với 100% đạt chuẩn sư phạm bậc II, nhưng 85,72% mới có trình độ đại học và 14,28% đạt trình độ thạc sĩ. Đội ngũ thiếu vắng các chuyên gia đầu đàn có bằng sau đại học đúng chuyên ngành công nghệ may do hạn chế trong hệ thống đào tạo sau đại học trong nước lúc bấy giờ.

Khâu quản lý nào bị đánh giá có hiệu quả thực hiện thấp nhất trong khảo sát? Khâu kiểm tra đánh giá và rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chương trình bị đánh giá thấp nhất, với chỉ 38,1% số người được hỏi ghi nhận mức độ thực hiện tốt, dù có tới 64,28% cán bộ giảng viên nhận thức đây là hoạt động rất cần thiết.

Mô hình hợp tác với doanh nghiệp dệt may mang lại lợi ích gì cho công tác đào tạo? Hợp tác với 10 đến 15 doanh nghiệp may giúp giải quyết bài toán thiếu hụt thiết bị máy may tự động tại xưởng trường, tạo môi trường cho 100% sinh viên trải nghiệm tác phong công nghiệp trên dây chuyền chuyền may LEAN thực tế trước khi tốt nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý dạy học thực hành theo 4 chức năng cốt lõi, gắn liền với đặc thù đào tạo công nghệ may.
  • Khảo sát thực trạng tại Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp trên mẫu 42 cán bộ, giảng viên chỉ ra điểm nghẽn về tỷ trọng thực hành thấp (29/149 đơn vị học trình) và tỷ lệ thực hiện kiểm tra đánh giá chỉ đạt 38,1%.
  • Đánh giá khách quan thực trạng 35 giảng viên và điều kiện cơ sở vật chất xưởng 100 máy may để làm căn cứ đề xuất giải pháp.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm biện pháp quản lý toàn diện từ đổi mới chương trình, chuẩn hóa sĩ số thực hành (15 - 18 sinh viên/ca), nâng cao trình độ giảng viên đến tăng cường liên kết doanh nghiệp.
  • Khuyến nghị nhà trường triển khai thí điểm điều chỉnh khung chương trình thực hành trong giai đoạn tiếp theo, đồng thời các cơ sở giáo dục nghề nghiệp kỹ thuật có thể nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp này nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dệt may Việt Nam.