Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Quản lý là một trong những loại hình quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn.
Nghiên cứu quản lý sẽ giúp cho con người có được những kiến thức cơ bản nhất, chung nhất đối với các hoạt động quản lý. Khái niệm quản lý đã được phát hiện mấy ngàn năm trước Công nguyên. Lúc đó quản lý mang tính cách là một thứ triết học. Nói cách khác quản lý chưa được tách ra để trở thành một khoa học độc lập.
Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người đến nay quản lý đã trở thành môn khoa học. Xã hội càng phát triển thì khoa học quản lý càng phát triển. Cho tới nay, có rất nhiều tư tưởng, học thuyết quản lý khác nhau và các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng. - Thời cổ Hy Lạp đã áp dụng quản lý tập trung và dân chủ.
Khái niệm kiểm tra và trách nhiệm đã có vào khoảng năm 1750 trước Công nguyên: + Xôcrat trong học tập nghị luận của mình viết rằng: “ Những người nào biết cách sử dụng con người thì sẽ điều khiển được công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt. Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc”. + Tư tưởng về quản lý con người và những yêu cầu về người đứng đầu – cai trị dân còn tìm thấy trong quan điểm của nhà triết học cổ đại Hy Lạp Platon (427-437 TCN). Theo ông muốn trị nước thì phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân.
Người đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết; thành thật; 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tự chủ; biết điều độ; ít tham vọng về vật chất và đặc biệt là phải được đào tạo kỹ lưỡng. - Ở phương đông cổ đại, nhất là Trung Hoa đã có những đóng góp đáng kể vào sự hình thành các tư tưởng quản lý mà cho đến nay các tư tuởng đó vẫn còn mang đậm nét trong phong cách quản lý của nhiều nước châu Á. + Khổng Tử (551 – 478 TCN): Quan điểm về nội dung giáo dục của ông là Nho giáo là nhằm tạo ra người quân tử, ông là một nhà đại giáo dục, ông đã tổng kết được rất nhiều kinh nghiệm trong phương pháp dạy học là “ Dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, đòi hỏi học trò phải luyện tập, phải hình thành về nền nếp, thói quen trong học tập” và “ Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. + Trong các học thuyết về quản lý ở phương Đông cổ đại Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử và một số người khác chủ trương dùng “ Đức trị” để cai trị dân nhưng Hàn Phi Tử, Thương Ưởng và một số người khác lại chủ trương dùng “ Pháp trị” để trị dân.
- Từ cuối thế kỷ XIV, khi Chủ nghĩa Tư bản xuất hiện, hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học đã được nhiều nhà giáo dục thực sự quan tâm. Nổi bật nhất là CôMenxki (1592 – 1670), ông là ông tổ của nền giáo dục cận đại, theo ông nghề thầy giáo là nghề rất vinh dự “ dưới ánh mặt trời không có nghề nghiệp nào cao quý hơn”. Ông nêu ra hàng loạt nguyên tắc dạy học chủ yếu dựa vào cơ sở triết học mới nhất về nhận thức luận, ông đã đặt cơ sở lý luận cho một nền dân chủ giáo dục tiến bộ sau này và cho đến ngày nay hệ thống lý luận đó vẫn còn giá trị tích cực, tiến bộ đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội văn minh hiện đại. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vào cuối thế kỷ XVII có nhiều nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu như RoBer owen (1771 – 1858), F.Tay Lo (1856 – 1915) người được coi là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”.
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt công trình với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý: Tính khoa học và nghệ thuật quản lý, những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển làm thế nào để việc ra quyết định quản lý đạt kết quả cao … Trong lĩnh vực giáo dục, khoa học giáo dục đã thực sự biến đổi về lượng và chất. Các tác phẩm kinh điển của Mác – Lênin đã định hướng cho hoạt động giáo dục như các quy luật về “ Sự hình thành cá nhân con người” về “ Tính quy định về kinh tế – xã hội đối với giáo dục” … Các quy luật đó đã đặt ra yêu cầu đối với quản lý giáo dục và tính ưu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho giáo dục. Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, nhiều nhà khoa học giáo dục đã có những thành tựu khoa học đáng trân trọng về quản lý giáo dục và quản lý dạy học. Ở Việt Nam: Cùng với truyền thống cần cù, anh dũng trong quá trình dựng nước và giữ nước, Việt Nam là một dân tộc có truyền thống hiếu học.
Kế thừa truyền thống của dân tộc và tiếp thu có chọn lọc các tư tưởng về quản lý, quản lý giáo dục nhiều nhà tư tưởng về quản lý và quản lý giáo dục đã xuất hiện. Tiêu biểu đó là: Thầy giáo Chu Văn An (1292 – 1370) – nhà Nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm mẫu mực cuối thời Trần. Ông đã vượt qua ngưỡng cửa: làm thầy giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo của muôn đời như Phan Huy Chú đã ca ngợi ông: “Học nghiệp thuần tuý, tiết tháo cao thượng, làng nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được”. - Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam, ông là anh hùng dân tộc, là nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn hóa lớn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của nước ta.
Trong cách quản lý của ông là phải “ Lo trước điều thiên hạ phải lo, vui sau cái vui của thiên hạ”, ông đã khuyên vua là phải chăn nuôi nhân dân thì mới giữ được nước và xây dựng được đất nước, qua đó đủ thấy rằng các bậc minh quân Việt Nam từ xa xưa đã biết lấy dân làm gốc trong quản lý đất nước như Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương thời Trần. - Đặc biệt Chủ Tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969). Bằng việc kế thừa tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, người đã để lại cho chúng ta những nền tảng lý luận về: Vai trò của giáo dục; định hướng phát triển giáo dục; vai trò quản lý và cán bộ quản lý giáo dục, phương pháp lãnh đạo và quản lý … Phải khẳng định rằng: Hệ thống các tư tưởng của Bác về giáo dục có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận dạy học, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam. - Gần đây nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý của các nhà nghiên cứu và các giảng viên đại học, các cán bộ viện nghiên cứu đã viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm … đã được công bố như các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Đức Chính, Đặng Xuân Hải, Hà Thế Ngữ, Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị, Trần Quốc Thành, Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Gia Quý, Nguyễn Văn Lê… Bằng sự tổng hoà các tri thức về giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học … các tác giả đã thể hiện trong công trình nghiên cứu của mình một cách khoa học về khái niệm quản lý, bản chất của hoạt động quản lý, các thành phần cấu trúc, chức năng quản lý, nguyên tắc, phương pháp quản lý, nghệ thuật quản lý nói chung và quản lý giáo dục, quản lý nhà trường nói riêng.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Người Trung Quốc có câu “ Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư”.
Nghĩa là có ba người cùng đi thì trong đó có một người là thầy của mình. Trong trường hợp trên nghĩa là tồn tại sự quản lý. Khái niệm quản lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hoạt động quản lý được hình thành từ sự phân công hợp tác lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức cộng đồng với nhu cầu hướng tới đạt hiệu quả tốt hơn. Do vậy xuất hiện người quản lý và sự quản lý.
Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích hợp nhau: Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”. Vì vậy nếu người chỉ huy chỉ biết lo việc “quản” thì tổ chức sẽ trì trệ, nếu chỉ quan tâm đến “lý” thì phát triển không bền vững. Do đó trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản” nhằm làm cho hệ ở thế phát triển cân bằng, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) và các nhân tố bên ngoài (ngoại lực). Hoạt động quản lý không thể nhắc tới tư tưởng sâu sắc của Các Mác “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Như vậy quản lý là điều khiển, là chỉ huy, là tổ chức, là hướng dẫn, là phối hợp quá trình hoạt động của con người trong các tổ chức xã hội. Tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý - Quản lý theo Tự điển Tiếng Việt thông dụng ( NXB Giáo Dục 1998) là: Tổ chức, hoạt động của một đơn vị, cơ quan; 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Theo Haror koontz, quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định.