phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng. Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo cao đẳng nghệ thuật Chƣơng 2. Thực trạng công tác quản lý đào tạo của trƣờng Cao đẳng Múa Việt Nam Chƣơng 3. Một số biện pháp đổi mới quản lý đào tạo tại trƣờng Cao đẳng Múa Việt Nam z 10 Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CAO ĐẲNG NGHỆ THUẬT. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu quản lý đào tạo - Nghiên cứu ngoài nƣớc Thời kỳ tiền tƣ bản chủ nghĩa (thế kỷ XV - XVIII) lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục thế giới, nhà giáo dục Tiệp Khắc J. Ông là ngƣời đặt nền móng cho hệ thống các nhà trƣờng, tạo cơ sở ra đời của “tổ chức hệ thống giáo dục” trên quy mô toàn xã hội - vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản lý giáo dục. Cômenxki đã đề xuất một hệ thống các trƣờng học dành cho các lứa tuổi khác nhau.
Ông cho rằng: "Nhà trƣờng phải là nơi vui tƣơi cho các em. Bao nhiêu kiến thức dạy các em phải kết hợp thành một hệ thống cân đối, hài hoà". Ông là ngƣời đầu tiên trong lịch sử giáo dục học đã nhấn mạnh đến sứ mệnh cao cả của ngƣời giáo viên đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao đối với họ nhƣ là một tấm gƣơng trong việc giáo dục giảng dạy học sinh. Nhắc đến nhà giáo dục - thực dụng chủ nghĩa nổi tiếng của phƣơng tây, John Dewey (Mỹ, 1859 - 1952) là nhắc đến những đóng góp để hình thành nên quan niệm về mối liên hệ giữa nhà trƣờng và xã hội cũng nhƣ nhận định của ông về một nền giáo dục hƣớng tới một kết quả cụ thể - dẫu rằng có dấu ấn của chủ nghĩa thực dụng.
Tuy vậy, cho đến đầu thế kỷ XX, vẫn chƣa có một công trình nghiên cứu độc lập về quản lý giáo dục. Đầu những năm 50 của thế kỷ XX trong hàng loạt những công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên Xô cũ, đã xuất hiện các luận văn tiến sĩ, phó tiến sĩ về những khía cạnh khác nhau của quản lý giáo dục. Trong số những công trình đó, có những công trình nghiên cứu sâu sắc về “thanh tra giáo dục”, “kế hoạch hoá giáo dục”. Năm 1956, cuốn “Quản lý trƣờng học” (Skolovedenie) của A.
Pôpốp, một nhà hoạt động sƣ phạm và quản lý giáo dục của Liên Xô cũ lần đầu xuất hiện đƣợc coi nhƣ một tài liệu hoàn chỉnh đầu tiên về quản lý giáo dục. Tiếp những năm sau đó, nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã cho ra đời những tài liệu vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn về quản lý hai z 11 quá trình sƣ phạm chủ yếu diễn ra trong nhà trƣờng: quản lý quá trình dạy học và quản lý giáo dục. Các tác giả đã dày công nghiên cứu, tổng kết những thành tựu nghiên cứu những vấn đề quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng nhƣ: Những cơ sở lý luận của quản lý nhà trƣờng (1983), Những cơ sở của quản lý nội bộ trƣờng học (1987), Kế hoạch hoá và quản lý giáo dục vi mô (1990), Quản lý giáo dục – lý thuyết nghiên cứu và thực tiễn (1996). - Nghiên cứu trong nƣớc Kế thừa và phát huy các giá trị lý luận và thực tiễn những thành tựu nghiên cứu về quản lý giáo dục của một số nƣớc trên thế giới, trong vòng hơn một thập kỷ qua, ở nƣớc ta đã có một số công trình nghiên cứu mới và nhiều bài viết bàn về quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng của các tác giả tiêu biểu đƣợc đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, nhiều cuộc hội thảo quốc gia bàn về đổi mới quản lý giáo dục đƣợc tổ chức.
Tác giả Vũ Ngọc Hải với cách tiếp cận mới về quản lý giáo dục nhƣ: Các mô hình về quản lí giáo dục. (số 6 (54) năm 2003), Cơ sở lí luận và thực tiễn của tư duy phát triển giáo dục ở nước ta.,Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Vũ Ngọc Hải.đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống những cơ sở lý luận chung của vấn đề quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trong nhà trƣờng.Đây là những công trình nghiên cứu rất cần thiết cho sự phát triển khoa học quản lý giáo dục và thực tiễn nhà trƣờng. Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX trƣớc yêu cầu đổi mới giáo dục, đòi hỏi nghiên cứu sâu hơn, có tính hệ thống hơn dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn quản lý giáo dục, một số cơ sở đầu ngành về giáo dục nhƣ Đại học Sƣ phạm, Đại học Giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục… mở hệ đào tạo cử nhân, thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục. Từ đó có nhiều luận văn thạc sỹ, tiến sỹ về biện pháp quản lý giáo dục ra đời.
Các đề tài đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của quản lý giáo dục. Tuy nhiên những nghiên cứu về biện pháp quản lý ở một nhà z 12 trƣờng nghệ thuật còn chƣa nhiều. Vì vậy tác giả chọn đề tài “Biện pháp quản lý đào tạo tại trƣờng Cao đẳng Múa Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình. Một số khái niệm cơ bản 1.Khái niệm Quản lý ra đời từ xa xƣa khi bắt đầu có xã hội loài ngƣời, có lao động tập thể, có phân công và hợp tác.
Tuy nhiên mãi đến năm 1911 khi FW. Taylor cho ra đời cuốn sách “những nguyên tắc quản lý khoa học” thì khoa học quản lý mới thực sự phát triển. Ngày nay khái niệm quản lý đƣợc phổ biến ngày càng rộng rãi. Vai trò của quản lý đƣợc đề cao.
Quản lý trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi tổ chức dù tổ chức đó thuộc loại nào và có quy mô ra sao. Mọi thành viên của mỗi tổ chức cả ngƣời quản lý và ngƣời bị quản lý đều chỉ có thể đạt đƣợc mục tiêu của mình thông qua sự vận dụng các yếu tố quản lý. Quản lý là một lĩnh vực tổng hợp của nhiều ngành khoa học (kinh tế, xã hội, chính trị, tâm lý. Cùng sự phát triển của phƣơng thức sản xuất và sự nâng cao trong nhận thức của con ngƣời thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý trở nên rõ rệt.
Do đó rất nhiều học giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra giải thích khác nhau về quản lý nhƣ: Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo Dục, 1998) thuật ngữ quản lý đƣợc định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. W Taylor cho rằng: “Quản lí là biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Koontz thì lại khẳng định: “Quản lí là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt các mục đích của tổ chức”. Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì chỉ cần phải có nhạc trƣởng”[2, tr 480]. z 13 Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể những ngƣời lao động nhằm đạt đƣợc những kết quả nhất định và mục đích đã định trƣớc” [25, tr 23]. Hai tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức” 7, tr 1 Dựa vào những quan niệm trên, khái niệm quản lý có thể đƣợc xác định nhƣ sau: Quản lý là sự tác động có định hƣớng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm nâng cao năng suất công việc và đạt đƣợc mục đích của tổ chức đề ra trong điều kiện biến động của môi trƣờng. Các chức năng quản lý Chức năng quản lý là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý trong quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý.
Chức năng quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch, Tổ chức, Lãnh đạo và Kiểm tra. - Chức năng lập kế hoạch Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên của một quá trình quản lý và đƣợc coi là nền tảng khi bàn đến hoạt động quản lý. Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu, mục đích phát triển trong tƣơng lai của một tổ chức và đƣa ra những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó. Việc lập kế hoạch rất quan trọng để đảm bảo cho nhà quản lý có thể đƣa ra những kế hoạch hợp lý và hƣớng toàn bộ thành viên làm việc theo mục tiêu của kế hoạch đã định.
Một kế hoạch sai lầm rất có thể sẽ đƣa đến những hậu quả khó lƣờng. Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: hình thành mục tiêu đối với tổ chức; đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt đƣợc các mục tiêu này và; quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt đƣợc các mục tiêu đó. - Chức năng tổ chức z 14 Tổ chức là quá trình xác định những công việc cần phải làm, sắp xếp các công việc đƣợc giao và phân công cho các đơn vị, cá nhân đảm nhận các công việc đó, tạo ra mối quan hệ ngang dọc trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu tổng thể của tổ chức. Thành công của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của ngƣời quản lý trong việc sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả.
Nhƣ vậy tổ chức đƣợc xem là một công cụ quản lý. - Chức năng lãnh đạo Để tổ chức hoạt động có hiệu quả thì ngƣời quản lý cần thực hiện chức năng lãnh đạo.