Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THCS Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THCS của Thành Phố Nam Định từ năm 2004 đến nay Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên THCS ở Thành phố Nam Định trong giai đoạn hiện nay 11 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Từ khi xã hội loài người có tổ chức, có sự phân công, hợp tác lao động thì cũng từ đó xuất hiện hoạt động quản lý. Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt được hiệu quả lao động cao hơn.
Vì vậy quản lý mang tính lịch sử, nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người. Chủ nghĩa Mác đã đề cao vai trò của quản lý: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đều tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng. Tuỳ theo các cách tiếp cận, mà có nhiều cách định nghĩa về hoạt động quản lý như: - Theo quan điểm kinh tế học, nhà kinh tế học người Mỹ – Frederic Wiliam Taylo (1856-1915), một nhà kinh tế học Anh cho rằng: "Quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất".
- Theo nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp Henry Fayon (1841-1925): Thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông đã khẳng định “khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành, và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”. - Theo quan điểm của H. Koontz người Mỹ thì: “Quản lý là hoạt động đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức trong một môi trường và đối với những điều kiện nguồn lực cụ thể” [25].
12 z - Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn: “quản lý nguồn nhân lực” là: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức”.[32] - Theo Mary Parker Pollett (1868-1933) thì quản lý là: “Nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác”, là: “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên của tổ chức, và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của tổ chức”. - Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã định nghĩa về quản lý là: “Sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Từ những cách hiểu của các tác giả trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm về quản lý là: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức, có sự lựa chọn của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm làm cho tổ chức ổn định và đạt mục tiêu đã đề ra. Chức năng của quản lý Quản lý cũng như các hoạt động khác đều có chức năng riêng của nó.
Quản lý có nhiều chức năng khác nhau, nhưng có thể xác định 4 chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. + Kế hoạch hoá: Đây là chức năng đầu tiên và quan trọng nhất của nhà quản lý. Nhà quản lý phải xác định được mục đích, mục tiêu, nội dung, biện pháp, con đường, cách thức, điều kiện để tiến hành mọi công việc. Với kế hoạch đã có, nhà quản lý phối hợp các nguồn lực trong một quy trình tổ chức nhất định để đạt được mục đích, mục tiêu đề ra.
13 z Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. + Tổ chức : Sau khi đã lập xong kế hoạch, nhà quản lý phải thực hiện kế hoạch bằng cách điều hành và phối hợp, phân cấp các thành viên trong tổ chức, phát huy hết các nguồn lực, tạo ra sự hoạt động đồng bộ của bộ máy, tạo ra sức mạnh hợp đồng để phát triển tổ chức và đạt được mục tiêu đã đề ra. Chức năng cơ bản của tổ chức là gắn kết các thành tố, các bộ phận để thực hiện thành công kế hoạch. Hai yếu tố có tác động mang tính quyết định đến quy trình tổ chức là cơ chế và năng lực của nhà quản lý.
Nhà quản lý có tổ chức tốt thì bộ máy của cơ quan, của tập thể, tổ chức mới vận hành tốt và đạt hiệu quả. Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng đó thành hiện thực. Xét về chức năng quản lý tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch. + Lãnh đạo (Chỉ đạo) Chỉ đạo giống như công việc của một "nhạc trưởng".
Nhà quản lý phải dẫn dắt, hướng dẫn, điều chỉnh mọi liên kết, mọi hoạt động của tổ chức. Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì chỉ đạo là quá trình vận hành, điều khiển hệ thống hoạt động hợp lý, nhịp nhàng, không có sự chồng chéo, vô lý. Thực chất chức năng chỉ đạo của chủ thể quản lý là điều hành bằng các văn bản, quyết định hành chính, là trình bày bằng mệnh lệnh và tôn trọng nguyên tắc dân chủ của tổ chức. Quá trình lãnh đạo (chỉ đạo) là phải có người đứng ra dẫn dắt tổ chức, tác động vào tổ chức để tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch đã đề ra.
+ Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những 14 z hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Đó là quá trình tự điều chỉnh diễn ra có tính chu kỳ sau: - Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động. - Người quản lý đối chiếu đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra. - Người quản lý tiến hành những điều chỉnh những sai lệch.
- Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần. Kiểm tra là chức năng cơ bản, không thể thiếu của người quản lý. Có thể nói không có thanh tra, kiểm tra coi như không có hoạt động quản lý. Thông qua kiểm tra người quản lý nắm được những vấn đề tồn tại,thiếu xót, hạn chế, khuyết điểm để có những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh đồng thời phát hiện những ưu điểm để phát huy, động viên, khích lệ hoàn thành kế hoạch đã đề ra.
Nội dung kiểm tra là kiểm soát tình hình, phát hiện động viên, phê phán, đánh giá thu thập thông tin và xử lý thông tin. Kiểm tra chính xác là xác định mối quan hệ ngược trong quản lý. Muốn kiểm tra đúng thực chất thì phải có chuẩn, dựa theo chuẩn, nó là cái thước mà khách thể quản lý và chủ thể quản lý đều phải tuân theo. Bốn chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra có quan hệ chặt chẽ, biện chứng, bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình quản lý.
Trong chu trình đó yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện vừa là phương tiện để thực hiện các chức năng quản lý. Quan hệ giữa các chức năng quản lý và thông tin được biểu hiện bằng sơ đồ sau: Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức 15 zChỉ đạo Sơ đồ 1.1: Quan hệ của các chức năng quản lý 1. Vai trò của quản lý + Vai trò liên nhân cách : - Vai trò đại diện là vai trò cơ bản nhất và đơn giản nhất của người quản lý, khi họ thay mặt hay đại diện cho tổ chức ở các cuộc lễ lạt hoặc những hoạt động mang tính nghi thức. - Vai trò thủ lĩnh – vai trò lãnh đạo: là vai trò của người quản lý khi họ thực hiện việc chỉ đạo hướn dẫn và phối hợp hoạt động của những người dưới quyền nhăm đạt được mục tiêu của tổ chức.
- Vai trò liên hệ: là vai trò đòi hỏi người quản lý phải mở rộng mối quan hệ với người bên ngoài tổ chức để tìm kiếm sự ủng hộ của họ. + Vai trò thông tin:Người quản lý giỏi là người phải hình thành nên mạng lưới thông tin, mối quan hệ, tiếp xúc để thu được những thông tin quý báu có lợi cho tổ chức của mình. Người quản lý phải là trung ương thần kinh của tổ chức. - Vai trò hiệu thính viên : là tìm kiếm thông tin, thu nhận và xử lý.
- Vai trò phát tín viên: là phải chia sẻ thông tin với cấp dưới để cùng nhau xử lý. - Vai trò phát ngôn nhân: là phải gửi thông tin của tổ chức về thực trạng tổ chức của mình cho nhiều người để biết rõ về tổ chức và công việc của tổ chức mình. + Vai trò quyết định: Người quản lý khi sử dụng thông tin phải quyết định xem bằng cách nào để xác định mục tiêu và hoạt động mới của tổ chức. - Vai trò người sáng nghiệp: Thiết kế và khởi đầu cho một dự án mới, một hệ thống , một bước ngoặt mới của tổ chức.
- Vai trò người dàn xếp: là phải đảm đương khi gặp phải những vấn đề và biến đổi vượt ra ngoài sự kiểm soát trực tiếp của mình.