CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về phát triển mạng lưới thương mại 1. Khái quát chung về mạng lưới thương mại 1. Khái niệm thương mại Về mặt học thuật, Thương mại (Tiếng Anh là Trade hoặc Commerce; tiếng Pháp là Commerce; tiếng La tinh là Commercium) đều được hiểu là mua bán, trao đổi hàng hóa, hoạt động kinh doanh.
Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa. Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi đó là ngoại thương (kinh doanh quốc tế). Trên thực tế, thương mại có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau: Theo phạm vi hoạt động, có thương mại nội địa (nội thương), thương mại quốc tế (ngoại thương), thương mại khu vực, thương mại thành phố, nông thôn, thương mại nội bộ ngành… Theo đặc điểm và tính chất của sản phẩm trong quá trình tái sản xuất xã hội, có thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại tư liệu sản xuất, thương mại hàng tiêu dùng. Theo các khâu của quá trình lưu thông, có thương mại bán buôn, thương mại bán lẻ.
Theo mức độ can thiệp của Nhà nước vào quá trình thương mại, có thương mại tự do (hay mậu dịch tự do) và thương mại có sự bảo hộ (hay bảo hộ mậu dịch). Theo kỹ thuật giao dịch, có thương mại truyền thống và thương mại điện tử (Thương mại điện tử), hay thương mại có giấy tờ và thương mại không có giấy tờ. Theo Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL), thuật ngữ “Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh ra từ mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có 5 hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính chất thương mại gồm bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa và dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư, cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường sắt hoặc đường bộ.
Hiện nay, Luật Thương mại (năm 2005) của Việt Nam và trong nhiều Hiệp định thương mại song phương đã được ký kết mà điển hình là Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, khái niệm “Thương mại” đều đã được hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm thương mại hàng hóa, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ, xúc tiến thương mại (XTTM) và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Việc quy định như vậy là phù hợp với Hiệp định thành lập WTO. Khái niệm hoạt động thương mại Hoạt động thương mại mang bản chất của hoạt động dịch vụ, diễn ra trên không gian thị trường cụ thể và thời gian xác định. Xét theo ý nghĩa đó và dựa theo hệ thống phân loại sản phẩm (Central Products Classification - CPC) của Liên Hợp Quốc, WTO đã phân định hoạt động thương mại hàng hóa trên thị trường các nước thành viên là hoạt động dịch vụ phân phối.
Theo phân loại các ngành dịch vụ của WTO, ngành dịch vụ phân phối gồm 4 phân ngành: dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, đại lý hoa hồng và nhượng quyền thương mại; trong đó, bán buôn và bán lẻ là hoạt động dịch vụ chính trong ngành dịch vụ phân phối. Luật Thương mại (năm 2005) của Việt Nam quan niệm: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác”. Cụ thể, hoạt động thương mại gồm các nhóm sau: 6 1) Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Các hình thức mua bán hàng hóa bao gồm: - Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.
- Mua bán hàng hóa trong nước: Thực hiện thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa. - Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa. 2) Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Có một số hoạt động dịch vụ chủ yếu sau đây: - Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
- Dịch vụ quá cảnh hàng hóa - Dịch vụ giám định - Cho thuê hàng hóa - Nhượng quyền thương mại 7 3) Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại. 4) Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại. Ngoài ra, còn một số hoạt động thương mại cụ thể khác như: Gia công trong thương mại; đấu giá hàng hóa; đấu thầu hàng hóa, dịch vụ. Sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là internet, đã thúc đẩy, phát triển và ứng dụng rộng rãi thương mại điện tử ở nhiều nước.
Thương mại điện tử đã góp phần thu hẹp khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng, giữa người bán và người mua, giữa các công ty, các quốc gia trong hoạt động xuất nhập khẩu, rút ngắn đáng kể thời gian giao dịch và nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại. Theo WTO: “Thương mại điện tử là hoạt động sản xuất, quảng cáo, tiêu thụ và phân phối sản phẩm thông qua các mạng viễn thông”. Hoạt động kinh doanh thương mại điện tử chính là việc ứng dụng công nghệ (chủ yếu là công nghệ thông tin) để tự động hóa các giao dịch kinh doanh và các kênh thông tin về kinh doanh. Tuy nhiên, cũng như internet, thương mại điện tử cũng có thể bị mất an toàn và bị tổn thất do bị phá hoại và bị trục trặc kỹ thuật, nên vấn đề an toàn khi tiến hành Thương mại điện tử cần được quan tâm hàng đầu.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Thương mại điện tử sẽ giúp nước ta có thêm khả năng hội nhập và hợp tác Kinh tế quốc tế. Hơn nữa, sự phát triển nhanh công nghệ thông tin và Internet ở nước ta thời gian qua cho phép chúng ta từng bước phát triển và ứng dụng rộng rãi hình thức kinh doanh thương mại hiện đại này 8 1. Vai trò của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế a) Vai trò thương mại dịch vụ đối với vấn đề tạo công ăn việc làm Số lượng lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ ngày càng có xu hướng gia tăng và cao hơn hẳn so với các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Có thể thấy rõ khi nhìn vào tỷ trọng lao động trong lĩnh vực dịch vụ của các nước phát triển.
Tại các nước này, đặc biệt là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Canada lĩnh vực dịch vụ luôn tạo ra việc làm cho khoảng 70-80% lực lượng lao động toàn quốc. Điều này thể hiện rằng khi nền kinh tế phát triển, lao động trong lĩnh vực dịch vụ sẽ ra tăng mạnh và dẫn đến xu hướng di chuyển lao động từ các lĩnh vực chế tạo sang các lĩnh vực dịch vụ. Trong khi đó, mặc dù tại các nước đang phát triển, lực lượng lao động tập trung nhiều trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp nhưng xu hướng di chuyển lao động liên ngành đang trở nên ngày càng phổ biến. Thống kê cho thấy tỷ lệ lao động trong lĩnh vực du lịch của các nước đang phát triển gia tăng với tốc độ tương đối nhanh ( khoảng 8-9%/năm), thể hiện chiến lược phát triển kinh tế nói chung của Chính phủ cũng như xu hướng phổ biến của kinh tế thế giới.
Theo ước tính, lực lượng lao động trong dịch vụ tại các nước đang phát triển đạt khoảng từ 20-30% và con số này có xu hướng tăng dần. b) Vai trò của thương mại dịch vụ trong vấn đề thúc đẩy và duy trì tăng trưởng của nền kinh tế Thực tế đã chứng minh rằng sự phát triển mạnh mẽ của thương mại dịch vụ là tiền đề quan trọng thúc đẩy đối với sự phát triển kinh tế, ngược lại sự phát triển kinh tế, sự năng động chính sách kinh tế ngày càng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn các ngành dịch vụ và thương mại dịch vụ. Thương mại dịch vụ không những góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn duy trì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới cho thấy trong xuất thập kỷ 90, lĩnh vực dịch vụ luôn duy trì 9 tốc độ tăng trưởng khoảng 6-7% (so với 3-5% của lĩnh vực hàng hoá) kể cả khi cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á nổ ra.
Điều đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực dịch vụ được duy trì cho cả các nước phát triển và đang phát triển mặc dù tốc độ tăng trưởng ở các nước đang phát triển có xu hướng cao hơn một chút. Đóng góp lớn vào GDP Một điều không thể phủ nhận được rằng dịch vụ chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP của mỗi quốc gia, dù phát triển hay đang phát triển. Số liệu thống kê năm 2000 đã cho thấy đối với các nước phát triển tỷ trọng dịch vụ trong GDP thường khoảng 60-70%, điển hình có Hoa Kỳ với tỷ trọng dịch vụ chiếm gần 85%.