chương I " Chuyển hoá vật chất và năng lượng" và chương IV " Sinh sản" - Sinh học 11 THPT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phần 3: Kết luận và khuyến nghị. PHẦN II- NỘI DUNG Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các quan niệm về khái niệm 1.
Quan điểm triết học về khái niệm Quan điểm duy tâm siêu hình xem các khái niệm chỉ là sản phẩm của sự suy nghĩ chủ quan, không phản ánh thực tại, không biến đổi và không liên quan với nhau. Quan điểm này cản trở sự phát triển của khoa học. Quan điểm duy vật biện chứng xem khái niệm là hình thức tư duy phản ánh sự vận động, phát triển của thực tại khách quan, các khái niệm không phải là bất biến, riêng rẽ mà là có quá trình phát triển trong mối liên hệ với những khái niệm khác. Nhận thức là một quá trình lịch sử, quá trình vận động từ chưa biết đến biết, từ biết chưa đầy đủ sâu sắc đến biết sâu sắc và đầy đủ hơn.
Sự vận động của nhận thức được biểu hiện ở quá trình phát triển, biến hoá của các khái niệm. Khái niệm không phải chỉ là điểm xuất phát trong sự vận động của tư duy mà còn là sự tổng kết quá trình vận động đó. Khái niệm không chỉ là công cụ của tư duy mà còn là kết quả của tư duy. Nhận thức càng phát triển thì nội dung các khái niệm khoa học càng mới.
Quan điểm lôgic học về khái niệm * Quan niệm của lôgic học hình thức về bản chất của khái niệm Lôgic hình thức xem khái niệm là một yếu tố đơn giản của sự suy nghĩ, là một bộ phận của phán đoán, khái niệm chỉ là chỉ là công cụ suy nghĩ và có tính chất quy ước để thuận tiện cho việc trao đổi sự suy nghĩ. Các nhà triết học duy tâm hạ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thấp vai trò của khái niệm nên xem các khái niệm khoa học chỉ là công cụ nhận thức khoa học, chỉ là những từ mà đằng sau chúng không có hiện thực nào cả. Lôgic hình thức cho rằng khái niệm có hai đặc điểm: Một là: Mỗi khái niệm chỉ là tổng số của một số dấu hiệu. Tuỳ theo tổng số dấu hiệu của khái niệm là nhiều hay ít mà phạm vi ứng dụng của khái niệm sẽ rộng hay hẹp.
Như vậy lôgic hình thức chỉ quan tâm đến mặt lượng của khái niệm, nghĩa là căn cứ vào số dấu hiệu của khái niệm mà khái niệm nào đó thuộc khái niệm này hay thuộc khái niệm khác. Hai là: Khái niệm là những quy ước có sẵn, không biến đổi. Nhìn chung quan niệm này không đúng vì khái niệm không phải là điều quy ước như là dùng ký hiệu để biểu thị đại lượng về số lượng toán học, mà nó có nội dung phản ánh hiện thực của nó và hiện thực biến đổi nên sự phản ánh hiện thực cũng biến đổi theo, tuy nhiên quan điểm này có khía cạnh đúng là trong điều kiện nhất định nào đó thì nội dung của khái niệm nào đó phải là không đổi, có như thế thì khi trao đổi, suy nghĩ, người ta mới có thể hiểu được nhau đầy đủ. * Quan niệm của lôgic học biện chứng về bản chất của khái niệm Lôgic biện chứng coi khái niệm là kết tinh sự nhận thức của con người, khái niệm là hình thức tư duy phản ánh sự vận động, phát triển của thực tại khách quan.
Khái niệm khoa học là sự tổng kết các tri thức về những dấu hiệu, thuộc tính chung và bản chất giữa các sự vật và hiện tượng. Lôgic biện chứng xem khái niệm có 3 đặc điểm căn bản: - Đặc điểm thứ nhất: Tính chung Khái niệm là kết quả của quá trình nhận thức đi từ đơn nhất đến cái phổ biến, đi từ cái riêng đến cái chung bằng con đường khái quát hoá. Đơn nhất là những dấu hiệu thuộc tính chỉ có ở sự vật hay hiện tượng nhất định. Phổ biến là những dấu hiệu thuộc tính chung có cùng ở nhiều sự vật, hiện tượng.
Sự tổng hoà các dấu hiệu hoặc thuộc tính chung và bản chất hợp thành nội 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dung của khái niệm. Như vậy, nội dung của khái niệm là sự tổng hợp chứ không phải là tổng cộng các dấu hiệu. Nhận thức không chỉ dừng lại ở cái phổ biến, cái chung mà người ta lại dựa vào cái phổ biến để tiếp tục nhận thức cái đơn nhất ở mức sâu sắc và toàn diện hơn. Lênin đã coi cái chung như là cơ sở đi tới nhận thức cái cá thể.
Xác định được quan hệ giữa cái chung và cái riêng, tìm ra con đường, quy luật khách quan của sự lĩnh hội khái niệm là một trong những vấn đề thời sự không phải chỉ của học thuyết về nhận thức mà còn là của lý luận dạy học. - Đặc điểm thứ hai: Tính bản chất Trong các dấu hiệu và thuộc tính chung, người ta phân biệt một số thuộc tính và dấu hiệu bản chất, nhờ có tính bản chất mà ta có thể phân biệt được một cách cơ bản loại sự vật, hiện tượng này với loại sự vật hiện tượng khác. Cái bản chất và cái chung có quan hệ với nhau, cái bản chất bao giờ cũng là cái chung, nhưng cái chung chưa hẳn đã là cái bản chất. Trong dạy học người ta phải đi từ những dấu hiệu chung rồi tách ra cái bản chất bằng sự trừu tượng hoá.
- Đặc điểm thứ ba: Tính phát triển Khái niệm không chỉ là điểm xuất phát trong sự vận động của nhận thức mà còn là tổng kết quá trình vận động đó, nó không chỉ là công cụ của tư duy mà còn là kết quả của quá trình tư duy. Nhận thức khoa học càng phát triển thì khái niệm khoa học có nội dung ngày càng mới, đến mức độ nào đó thì phải đổi tên của khái niệm. Khái niệm khoa học có tính chất lịch sử , lịch sử khoa học là lịch sử phát triển các khái niệm, tức là thay đổi, bổ sung nội dung khái niệm cũ, tạo ra khái niệm mới, quá trình đó phản ánh sự vận động giải quyết mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức của khái niệm, giữa dấu hiệu được đưa vào khái niệm và tên gọi của khái niệm. Như vậy, lôgic biện chứng xem khái niệm là sự thống nhất biện chứng giữa đơn nhất và phổ biến, giữa cụ thể và trừu tượng, giữa nội dung và hình thức.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan niệm này hướng dẫn chúng ta những quy tắc hình thành và phát triển các khái niệm khoa học trong quá trình dạy học sinh học. Khái niệm sinh học Khái niệm sinh học là những khái niệm phản ánh những dấu hiệu và thuộc tính chung, bản chất của các tổ chức và hiện tượng sống. Định nghĩa khái niệm sinh học Định nghĩa một khái niệm tức là trả lời câu hỏi: một sự vật, hiện tượng nào đó là cái gì? Muốn vậy phải chỉ ra những thuộc tính bản chất của nó, đủ để phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác. Định nghĩa chính xác một khái niệm là kết quả một quá trình nhận thức lâu dài của loài người nhưng câu định nghĩa khái niệm không thể chứa đủ mọi hiểu biết hiện thời về đối tượng được định nghĩa mà chỉ có thể nêu lên những nét bản chất nhất, chủ yếu nhất.
Trong sách giáo khoa, trong dạy học người ta thường bắt đầu việc giới thiệu tri thức mới bằng việc định nghĩa khái niệm. Đây thường là những định nghĩa theo trình độ hiện đại của khoa học, đôi khi được đơn giản hoá cho phù hợp với trình độ lĩnh hội của học sinh và yêu cầu của chương trình. Lên các lớp trên, khái niệm đó sẽ dần được bổ sung, chính xác hơn. Các loại khái niệm sinh học Khái niệm sinh học là tri thức khái quát về những dấu hiệu và thuộc tính bản chất của các cấu trúc vật chất sống, của các hiện tượng quá trình của sự sống, phản ánh những mối liên hệ tương quan giữa chúng với nhau.
Dựa vào phạm vi phản ánh rộng hay hẹp có thể chia khái niệm sinh học thành khái niệm đại cương và khái niệm chuyên khoa. - Khái niệm sinh học đại cương: Là loại khái niệm phản ánh những cấu trúc, hiện tượng, quá trình quan hệ cơ bản của sự sống chung cho một bộ phận lớn hoặc toàn bộ sinh giới. Ví dụ, các khái niệm về cấu trúc tế bào, gen, nhiễm sắc thể, quần thể, quần xã, tiến hoá, chọn lọc tự nhiên. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khái niệm sinh học chuyên khoa: Là loại khái niệm phản ánh từng cấu trúc, hiện tượng, quá trình của một đối tượng hay một nhóm đối tượng nhất định, hoặc phản ánh từng dạng quan hệ riêng biệt giữa các đối tượng, hiện tượng đó.
Khái niệm chuyên khoa bao giờ cũng phản ánh một cấu trúc sống, một hiện tượng sống, một quá trình sống và gắn với một đối tượng sinh vật cụ thể, đi sâu vào chi tiết với những nét riêng biệt của đối tượng. Trong khi đó, khái niệm đại cương bao giờ cũng phản ánh những tính chất, thuộc tính chung nhất cho mọi tổ chức sống mà không bó hẹp trong một đối tượng cụ thể nào. Giữa các khái niệm đại cương và khái niệm chuyên khoa có mối quan hệ qua lại với nhau. Các khái niệm chuyên khoa làm cơ sở hình thành các khái niệm đại cương.
Ngược lại, các khái niệm đại cương lại bổ sung, phát triển các khái niệm chuyên khoa. Mối quan hệ này phản ánh phù hợp với qui luật nhận thức đi từ cụ thể riêng biệt đến trừu tượng khái quát rồi từ khái quát trừu tượng lại đi sâu hơn vào các chi tiết cụ thể. Vai trò của khái niệm trong hoạt động nhận thức Học tập là hoạt động nhận thức nhằm phản ánh có mục đích thế giới khách quan vào ý thức của mỗi người mà kết quả là hình thành hệ thống các khái niệm về sự vật, hiện tượng, mối quan hệ nhân quả, quan hệ quy luật về thời gian ( quá trình), từ đó hình thành học thuyết khoa học. Khái niệm vừa là kết quả nhận thức về bản chất của các sự vật, hiện tượng cũng như về mối quan hệ bản chất của chúng, vừa là cơ sở để nhận thức tiếp theo.
Hình thành và phát triển các khái niệm là con đường để học sinh lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc, vững chắc, đồng thời phát triển tư duy hình thành nhân cách. Nói cách khác, hình thành nhân cách cho học sinh là hệ quả của quá trình dạy học sinh học.