CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN BỆNH VIỆN 1. Khái niệm phát triển chất lượng tổ chức 1. Khái niệm tổ chức Một tổ chức là một sự sắp xếp có hệ thống những người được nhóm lại với nhau để đạt được những mục tiêu cụ thể. Tổ chức có 3 đặc trưng cơ bản: Thứ nhất, một tổ chức đều có một mục đích riêng biệt thông qua các mục tiêu của từng cá nhân riêng lẻ.
Thứ hai, mỗi tổ chức bao gồm nhiều người. Sự tập hợp nhiều người trong một tổ chức là sự tập họp có ý thức để nhằm thực hiện được các mục tiêu chung. Họ có ý thức đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của mình, cái được, cái mất của mình khi tham gia vào tổ chức đó. Họ có ý thức rõ ràng về nhiệm vụ chung mà mọi người trong tổ chức đều phải hoàn thành.
Thứ ba, các tổ chức đều phát triển thành một kiểu sắp đặt nhất định. Kiểu sắp đặt đó định nghĩa giới hạn và hành vi của các thành viên, chẳng hạn nó bao gồm vệc đặt ra những quy định, chỉ định một số người giữ chức vụ thủ trưởng (đứng đầu), có một số quyền điều hành đối với một số người khác. Như vậy, tổ chức là một thực thể có mục đích cụ thể, rõ ràng, có những thành viên và có một cơ cấu chặt chẽ có tính hệ thống. Tổ chức là một thực thể có mục tiêu phải hoàn thành.
Khái niệm phát triển tổ chức Các tổ chức hiện đại đang đối mặt với một môi trường thay đổi nhanh chóng được đặc trưng bởi sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, sự bùng nổ tri thức trong một thế giới kết mạng, những đòi hỏi cao hơn từ những khách hàng ngày càng khó tính hơn, những người lao động có trình độ cao hơn, độc lập hơn, và khó quản lý hơn. Những đặc tính này tạo ra một môi trường thay đổi rất nhanh và đầy biến động. Để tồn tại và phát triển trong điều kiện này, các tổ chức phải phát triển cho mình năng lực thích ứng cao, thường xuyên thay đổi, và thay đổi thành công để tận dụng những cơ hội và vượt qua những thách thức, qua đó đáp ứng những đòi hỏi của khách hàng, người lao động, thị trường, và cạnh tranh thành công để đạt tới tầm nhìn, sứ mạng và các mục tiêu của tổ chức. 5 Phát triển tổ chức là tập hợp các phương pháp, các hoạt động can thiệp để thay đổi nguyên trạng của tổ chức.
Có một vài phương pháp can thiệp mà các nhà quản lý thường sử dụng để phát triển tổ chức. - Tái tổ chức cơ cấu: để giúp tổ chức thích nghi với sự thay đổi của môi trường thì việc tái tổ chức lại cơ cấu là điều cần thiết. - Phát triển hệ thống chính sách khen thưởng: Những người đại diện cho thay đổi tổ chức thì rất nhiệt tình ủng hộ quan điểm cho rằng, hành vi có chức năng biểu lộ kết quả của chính nó. Do đó, đã khiến các nhà quản lý thường tập trung vào hệ thống khen thưởng của tổ chức.
- Phát triển văn hóa của tổ chức: Việc thay đổi văn hóa tổ chức là tích cực, song rõ ràng là, sự thay đổi văn hóa tổ chức là một quá trình lâu dài. - Tái thiết kế công việc: Tái thiết kế lại công việc giống như tái tổ chức lại cơ cấu, chỉ có điều thay vì tập trung những cố gắng để thay đổi tổ chức, thì chúng ta tập trung cố gắng để thay đổi công việc. Kết quả là, trái với việc tái thiết kế lại tổ chức, trong thực tế việc thiết kế lại công việc có phạm vi rộng hơn và có thể được thực hiện bởi các nhà quản lý cấp cao. Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển của một tổ chức 1.
Nhóm yếu tố khách quan Các tổ chức phát triển, hoạt động hiệu quả cao khi được tạo điều kiện thuận lợi trong môi trường mà nó tồn tại, đó là: Môi trường tự nhiên. Môi trường tự nhiên bao gồm đất đai, vị trí địa lý, khí hậu, khung cảnh làm việc của tổ chức. Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất cao, kèm theo đó là những đòi hỏi rất cao: Vị trí khung cảnh nơi làm việc của người lao động trong tổ chứcbao gồm các yếu tố nghỉ ngơi, giải trí, làm việc ảnh hưởng đến tâm lý, thể trạng, thể lực và năng suất lao động của cán bộ công chức.Nếu bố trí nơi làm việc của người lao động không hợp lý thì năng suất lao động của tổ chức sẽ bị hạn chế ngược lại nếu nơi làm việc người được bố trí hợp lý thì sẽ kích thích tinh thần và thái độ của người lao động và làm người lao động gắn bó hơn với tổ chức. Môi trường xã hội.
Môi trường xã hội cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát 6 triển của tổ chức, các yếu tố của môi trường xã hội bao gồm yếu tố văn hóa, yếu tố con người, xã hội. Yếu tố xã hội trong quá trình trao đổi thông tin tổ chức với nhóm công chúng bên ngoài thì các quan hệ xã hội sẽ phát sinh và ngày càng phong phú thêm. Môi trường pháp lý. Đề cập tới vấn đề này trước hết cần nói đến pháp luật, tức là những quy đinh của pháp luật liên quan đến tổ chức.
Mỗi tổ chức trong một lĩnh vực đều có những văn bản pháp luật điều chỉnh riêng. Những quy định mang tính chất pháp lý sẽ được điều chỉnh, quy định và định hướng hoạt động của tổ chức sẽ tuân thủ theo quy định của Hiến pháp và Pháp luật. Ảnh hưởng của môi trường pháp lý đến sự phát triển của tổ chức chính là là những văn bản quy phạm pháp luật quy định. Môi trường chính trị.
Đây chính là những quan điểm, tư tưởng chính trị. Có thể thấy rằng, môi trường chính trị ổn định cũng đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và sự phát triển của tổ chức Nếu một môi trường chính trị ổn định, tạo các hành lang điều kiện cho các tổ chức phát triển thì sẽ có nhiều tổ chức được thành lập và phát triển mạnh mẽ và ngược lại. Môi trường kinh tế. Các tổ chức chính có trụ sở tại các vùng kinh tế phát triển thì phát triển hơn các tổ chức ỏ những vùng có kinh tế kém phát triển hơn, nên hiệu quả của người lao động ở trong tổ chức ở vùng có nền kinh tế phát triển cũng sẽ cao hơn so với các nơi khác.
Người lao động ở vùng kình tế phát triển sẽ nắm bắt được nhiều thông tin hơn, họ nhạy bén hơn trong công việc, yêu cầu của công việc cũng bắt buộc họ phải có những bước chuẩn bị kỹ càng hơn, vì vậy tâm lý làm việc của cán bộ sẽ thay đổi theo, mức độ cạnh tranh trong công việc cũng cao hơn. Ngược lại người lao động trong tổ chức ở vùng sâu vùng xa sẽ ít có điều kiện tiếp cận với thông tin hơn, mức độ cạnh tranh trong công việc cũng giảm. Nhóm yếu tố chủ quan Yếu tố con người. Con người luôn là trung tâm của mọi vấn đề, thế giới quanh ta chỉ có ý nghĩa 7 khi có cuộc sống của con người.
Tất cả thành quả của cuộc sống đều được xây dựng trên cơ sở niềm tin, ý chí, nghị lực của con người và “Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” (Các Mác).Con người (CBCC) là trung tâm của công sở: đề ra kế hoạch, phương hướng, tuân thủ các quy định của pháp luật, các quy chế cơ quan. Hiệu quả hoạt động của tổ chức phụ thuộc rất lớn vào con người: năng lực trình độ, trách nhiệm, đạo đức phẩm chất, con gnười đó có phù hơp với mục tiêu đề ra không? Vì vậy sự phát triển của con người là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của tổ chức. Mối quan hệ giữa các nhóm thành viên của tổ chức. Mối quan hệ nội bộ trong tổ chức được giải quyết như thế nào sẽ tác động rất lớn tới hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Mối quan hệ thuận lợi trong tổ chức, đảm bảo được sự phối hợp trong giải quyết công việc sẽ rất nhanh và hiệu quả cao. Trong đó quan trọng nhất là quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên. Nếu người lãnh đạo có quan hệ tốt với các thành viên trong tổ chức và có năng lực chuyên môntốt thì họ rất thuận lợi trong việc tập hợp quần chúng mà không cần sử dụng nhiều đến quyền lực chính thức được giao. Khi đó công việc sẽ tiến hành rất hiệu quả.
Ngược lại, nếu người lãnh đạo phải dựa vào quyền lực để buộc người khác làm việc theo ý muốn của mình thì công việc sẽ không thành công, sụ ép buộc không phải bao giờ cũng thuận lợi. Bởi vì, sự ép buộc mà không có tinh thần tự giác thì hiệu quả công việc thường không cao. Đặc điểm của một bệnh viện Bệnh viện hay nhà thương là cơ sở để khám và chữa trị cho bệnh nhân khi bệnh của họ không thể chữa ở nhà hay nơi nào khác. Đây là nơi tập trung các chuyên viên y tế gồm các bác sĩ nội và ngoại khoa, các y tá, các kỹ thuật viên xét nghiệm cận lâm sàn.
Đặc điểm hoạt động Dựa vào hoạt động của bệnh viện mà người ta phân thành 6 loại bệnh viện và hoạt động theo tiêu chí sau: Bệnh viện đa khoa. Bệnh viện đa khoa là những bệnh viện lớn, có thể xét nghiệm và chữa trị hầu hết các loại chứng bệnh. 8 Bệnh viện chuyên khoa. Bệnh viện được thành lập theo chuyên ngành vì nhu cầu điều trị đặc biệt, như bệnh viện nhi, bệnh viện mắt, bệnh viện Lao.
Phòng khám. Phòng khám là một cơ sở y tế có nhiều phòng để bác sĩ khám bệnh. Khác với phòng mạch là nơi chẩn bệnh riêng của từng bác sĩ, phòng khám mang tính công cộng hơn và thường có nhiều hỗ trợ y tế hơn như y tá, chuyên viên vật lý trị liệu, y sĩ nhãn khoa v. Vì phòng khám thường không có phòng và giường cho bệnh nhân ngủ lại, trên lý thuyết không thuộc vào loại bệnh viện.
Bệnh xá hay trạm xá là nơi chẩn đoán và chữa trị tạm thời người bệnh địa phương quản lý. Nếu bệnh trầm trọng sẽ được gửi lên bệnh viện lớn. Viện nghiên cứu y học. Sinh viên y khoa học tập và thực tập tại các bệnh viện thường dưới sự giảng dạy của các giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ và các nhà nghiên cứu khoa học y khoa.
Đa số các bệnh viện lớn có viện nghiên cứu, giảng đường để sinh viên có điều kiện nghiên cứu về các ngành chuyên khoa.