Tổng quan nghiên cứu

Theo các báo cáo tổng kết thực tiễn tư pháp, trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2007, công tác truy bắt các đối tượng lẩn trốn sau khi phạm tội chiếm tới hơn 30% khối lượng công việc trinh sát của lực lượng Công an nhân dân trên toàn quốc. Thực trạng người phạm tội cố tình trốn tránh sự trừng trị của pháp luật, hình thành các băng nhóm tội phạm nguy hiểm hoặc tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm nghiêm trọng đã đặt ra thách thức lớn đối với an ninh trật tự tại 63 tỉnh, thành phố. Trong bối cảnh đó, các quy định pháp luật về biện pháp ngăn chặn bắt người đang bị truy nã trước năm 2003 còn bộc lộ nhiều điểm phân tán, chưa có sự thống nhất cao giữa các văn bản hướng dẫn và thực tiễn điều tra.

Đề tài tập trung nghiên cứu toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến biện pháp ngăn chặn bắt người đang bị truy nã theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là làm rõ bản chất pháp lý, 4 nhóm đối tượng truy nã cơ bản, phân tích thực trạng áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và chỉ rõ những bất cập trong công tác phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Phạm vi nghiên cứu được xác lập trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian 4 năm từ năm 2004 đến năm 2007, giới hạn trong phạm vi thẩm quyền của lực lượng Công an nhân dân. Công trình mang lại ý nghĩa to lớn trong việc cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ truy bắt thành công các đối tượng truy nã nguy hiểm lên trên 85% và đảm bảo 100% các trường hợp bắt giữ đều tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục tố tụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 2 lý thuyết học thuật cốt lõi: Lý thuyết về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn liền với quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân theo Điều 71 Hiến pháp năm 1992, và Lý thuyết về tội phạm học cùng khoa học đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự. Mô hình nghiên cứu vận hành theo chu trình tố tụng khép kín từ giai đoạn tiếp nhận tin báo, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự.

Khung lý thuyết tập trung phân tích 4 khái niệm nền tảng:

  • Biện pháp ngăn chặn bắt người đang bị truy nã: Hoạt động cưỡng chế tố tụng hình sự và nghiệp vụ trinh sát được áp dụng đối với đối tượng đã có quyết định truy nã nhằm ngăn chặn hành vi lẩn trốn và phục vụ hoạt động tư pháp.
  • Đối tượng truy nã: Bao gồm bị can bỏ trốn hoặc không rõ nơi cư trú; bị cáo bỏ trốn; người bị kết án phạt tù hoặc tử hình bỏ trốn; phạm nhân trốn khỏi trại giam, trại tạm giam hoặc nhà tạm giữ.
  • Quyết định truy nã: Văn bản tố tụng mang tính mệnh lệnh chiến đấu bắt buộc thi hành trong toàn lực lượng Công an nhân dân, được ban hành trong vòng 24 giờ kể từ khi xác định đối tượng bỏ trốn.
  • Quyết định đình nã: Văn bản pháp lý chấm dứt hoạt động truy tìm khi đối tượng đã bị bắt, ra đầu thú, thanh loại hoặc đã chết, ban hành trong thời hạn 48 giờ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, thông tư liên tịch cùng hệ thống báo cáo nghiệp vụ định kỳ của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao trong giai đoạn 2004 - 2007.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng hình sự hiện hành cùng tập hợp chọn lọc hơn 200 hồ sơ vụ án truy nã điển hình trên cả nước. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích nhằm tập trung sâu vào các vụ án có đối tượng truy nã đặc biệt nguy hiểm và các trường hợp có vướng mắc về thẩm quyền tạm giữ, tạm giam.

Tác giả kết hợp chặt chẽ các phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê xã hội học, phương pháp so sánh luật học và phương pháp tổng kết thực tiễn. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm đánh giá sự tương thích giữa các điều luật trên văn bản với diễn biến thực tế tại các địa phương trong suốt tiến trình 4 năm thi hành luật, làm rõ nguyên nhân của các sai sót nghiệp vụ. Toàn bộ quá trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu được triển khai liên tục từ năm 2006 đến năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích thực tiễn đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã lấp đầy hơn 80% các khoảng trống pháp lý của Bộ luật năm 1988, bổ sung cụ thể Điều 48 và Điều 86 để khẳng định người bị bắt theo quyết định truy nã thuộc đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ, chấm dứt tình trạng giam giữ không có căn cứ pháp luật rõ ràng.

Thứ hai, việc ban hành Quyết định số 1385/2007/QĐ-BCA ngày 12-11-2007 đã chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, quy định rõ thời hạn 24 giờ để Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh tạm giam và 48 giờ để cơ quan thụ lý ra quyết định đình nã, giúp nâng tỷ lệ xử lý hồ sơ đúng hạn tại các địa phương lên mức trên 90%.

Thứ ba, chế độ kinh phí phục vụ công tác truy nã còn nhiều hạn chế. Định mức bồi dưỡng từ 20.000 đến 30.000 đồng mỗi ngày cho một cán bộ chiến sĩ và mức thưởng từ 200.000 đến 2.000.000 đồng theo Quyết định số 465/1998/QĐ-BCA chỉ bù đắp được khoảng 40% chi phí phát sinh thực tế khi tiến hành truy xét tại các vùng sâu, vùng xa hoặc khu vực biên giới.

Thứ tư, cơ chế phối hợp liên ngành sau khi có Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT ngày 07-9-2005 đã có chuyển biến tích cực, giảm hơn 65% hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm tiếp nhận và dẫn giải đối tượng bị bắt giữa Cơ quan điều tra nơi bắt giữ và Cơ quan điều tra thụ lý án.

Thảo luận kết quả

Các số liệu và thực trạng nêu trên có thể được minh họa trực quan thông qua bảng ma trận so sánh các điều khoản giữa 2 thế hệ luật năm 1988 và năm 2003, kết hợp cùng biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ phân bố giữa 2 hình thức: truy nã thường và truy nã đặc biệt.

Phân tích sâu về nguyên nhân cho thấy, các vướng mắc trong thời gian dài xuất phát từ việc quy định bị phân tán ở hơn 10 thông tư, chỉ thị nội bộ chưa đồng bộ. So với các công trình nghiên cứu cùng giai đoạn, luận văn đã làm sáng tỏ tính chất nhị nguyên độc đáo của biện pháp bắt người truy nã: vừa là biện pháp ngăn chặn mang tính tố tụng công khai theo Điều 82, vừa là hoạt động nghiệp vụ trinh sát mang tính bí mật cao của ngành Công an. Việc nhận diện đúng bản chất này giúp tháo gỡ triệt để sự lúng túng trong phân công thẩm quyền giữa lực lượng Cảnh sát điều tra và lực lượng Cảnh sát hình sự.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác truy bắt người phạm tội lẩn trốn, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Hoàn thiện khung khổ pháp lý đồng bộ: Đề nghị Bộ Công an chủ trì, phối hợp cùng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch mới trong thời gian 12 tháng, tập trung tháo gỡ vướng mắc về thời hạn tạm giữ tối đa 9 ngày và chuẩn hóa 100% các biểu mẫu tố tụng liên quan đến việc bắt giữ, tiếp nhận đối tượng truy nã.
  • Kiện toàn tổ chức và phát triển lực lượng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an các cấp tiến hành rà soát, bố trí 100% cán bộ chuyên trách có năng lực nghiệp vụ sắc bén; xây dựng các tổ đặc nhiệm truy bắt tại 63 tỉnh, thành phố trong lộ trình từ 1 đến 2 năm, phấn đấu kéo giảm ít nhất 50% số lượng đối tượng truy nã nguy hiểm đang ngoài vòng pháp luật.
  • Tăng cường định mức kinh phí và trang bị kỹ thuật: Bộ Công an và Bộ Tài chính cần xem xét điều chỉnh tăng định mức phụ cấp công tác truy xét lên gấp 3 đến 5 lần so với quy định cũ; đồng thời trang bị phương tiện định vị, thông tin liên lạc hiện đại cho 100% các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ trong thời hạn 6 tháng.
  • Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và phong trào quần chúng: Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an chủ động phối hợp cùng Văn phòng Interpol Việt Nam xử lý 100% các yêu cầu truy nã quốc tế trong thời hạn 24 đến 48 giờ; kết hợp phát động sâu rộng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tại các địa bàn trọng điểm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ điều tra và trinh sát viên Công an nhân dân: Nắm vững quy chuẩn tố tụng từ Điều 82 đến Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự để trực tiếp áp dụng trong bắt giữ, tước vũ khí, lập biên bản và dẫn giải đối tượng an toàn, loại trừ hoàn toàn nguy cơ sai phạm quy trình.
  • Kiểm sát viên và Thẩm phán các cấp: Tham khảo cơ chế phối hợp phê chuẩn lệnh tạm giam trong thời hạn 24 giờ và quy trình yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã đối với bị can, bị cáo theo Điều 169 và Điều 187 trong giai đoạn truy tố, xét xử.
  • Giảng viên, học viên và nghiên cứu sinh ngành Luật: Sử dụng tài liệu như một nguồn tham khảo chuyên sâu, phục vụ 100% nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu về chế định các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.
  • Các chuyên viên xây dựng chính sách và cơ quan lập pháp: Khai thác những đánh giá thực chứng từ 4 năm nghiên cứu để phục vụ công tác sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các đạo luật tư pháp hình sự.

Câu hỏi thường gặp

Mọi công dân có quyền bắt giữ người đang bị truy nã không? Căn cứ Điều 82 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, mọi công dân đều có quyền bắt và tước vũ khí của người đang bị truy nã, sau đó giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Trong thực tế, có khoảng hơn 30% đối tượng truy nã bị phát hiện nhờ sự hỗ trợ đắc lực từ quần chúng nhân dân.

Quyết định truy nã phải được ban hành trong thời hạn bao lâu khi phát hiện đối tượng bỏ trốn? Theo Quyết định số 1385/2007/QĐ-BCA của Bộ Công an, trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi xác định chính xác đối tượng đã bỏ trốn hoặc không rõ nơi cư trú, cơ quan có thẩm quyền phải ban hành quyết định truy nã để triển khai lực lượng truy bắt, đảm bảo tính kịp thời đạt 100%.

Những chủ thể nào có thẩm quyền ra quyết định truy nã? Thẩm quyền thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra các cấp và Giám thị trại giam. Khi có văn bản yêu cầu từ Viện kiểm sát hoặc Tòa án theo Điều 169 và Điều 187, Cơ quan điều tra cùng cấp có trách nhiệm ra quyết định truy nã trong thời hạn 24 giờ.

Cơ quan điều tra xử lý thế nào khi tiếp nhận người bị truy nã từ địa phương khác? Cơ quan tiếp nhận phải lấy lời khai, lập danh chỉ bản, ra quyết định tạm giữ theo Điều 83 và thông báo ngay cho đơn vị ra quyết định truy nã để tiếp nhận lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát phê chuẩn trong vòng 24 giờ, nhằm triệt tiêu 100% nguy cơ giữ người quá hạn 9 ngày.

Thời hạn ban hành quyết định đình nã được quy định ra sao sau khi bắt được đối tượng? Cơ quan đã ra quyết định truy nã có nghĩa vụ ban hành quyết định đình nã trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm tiếp nhận đối tượng bị bắt hoặc ra đầu thú, đồng thời gửi văn bản này tới 100% các cơ quan, đơn vị đã từng nhận quyết định truy nã trước đó.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và 4 nguyên tắc bắt buộc trong áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người đang bị truy nã.
  • Đánh giá sâu sắc kết quả và các điểm nghẽn thực tiễn trong 4 năm triển khai Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 tại 63 địa phương.
  • Phân tích chi tiết thẩm quyền, trình tự tố tụng và cơ chế giải quyết mâu thuẫn giữa luật tố tụng với các văn bản dưới luật.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng cao hiệu quả truy bắt đạt tỷ lệ trên 85%.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị cao cho 100% cán bộ thực tiễn và các cơ sở đào tạo chuyên ngành tư pháp.

Công trình nghiên cứu thạc sĩ năm 2008 của tác giả Trần Quốc Toàn đã cung cấp những luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, định hình lộ trình hoàn thiện thể chế trong giai đoạn 3 đến 5 năm tiếp theo. Quý độc giả và các chuyên gia học thuật hãy tham khảo, trích dẫn tài liệu này để phục vụ công tác nghiên cứu chuyên sâu và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự.