Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Triết học của tác giả Phùng Tố Uyên, do TS. Trần Thị Hồng Loan hướng dẫn khoa học tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (năm 2019), tập trung giải quyết vấn đề bồi dưỡng ý thức tự học của người học trong bối cảnh giáo dục đại học chuyển đổi phương thức đào tạo.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định xuất phát từ cuộc cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình hội nhập quốc tế. Thực tế này đòi hỏi cá nhân phải liên tục trau dồi tri thức, biến việc học thành nhu cầu tự thân theo nguyên lý triết học về sự tự thân vận động. Cơ sở pháp lý trực tiếp của vấn đề được ghi nhận tại Điều 5 Luật Giáo dục 2005: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành lòng say mê học tập và ý chí vươn lên". Đặc biệt, khi các trường đại học chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ, thời lượng tự học của sinh viên chiếm tới 2/3 tổng thời lượng học tập. Tuy nhiên, tác giả ghi nhận thực trạng nhiều sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 còn lúng túng trong phương pháp, học tập mang tính đối phó và khả năng tự nghiên cứu còn hạn chế.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng ý thức tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng ý thức tự học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động học tập của sinh viên trong Trường.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Một là, trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về ý thức tự học và nội dung của việc bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên các trường đại học hiện nay dưới góc độ tiếp cận triết học.
  2. Hai là, nghiên cứu thực trạng tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó.
  3. Ba là, đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp bồi dưỡng ý thức tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong giai đoạn hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu vấn đề ý thức tự học của sinh viên và đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong giai đoạn từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2018 - 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đề tài kết hợp giữa lý luận triết học Mác - Lênin và khoa học giáo dục. Về mặt triết học, nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng: ý thức là đặc tính và sản phẩm của vật chất có tổ chức cao là bộ não người, phản ánh sáng tạo thế giới khách quan thông qua lao động và ngôn ngữ. Xét theo cấu trúc ngang, ý thức bao gồm tri thức, tình cảm, niềm tin và lý trí, trong đó tri thức giữ vai trò cơ bản, cốt lõi; ý chí là mặt năng động, phản ánh sự tự đấu tranh để thực hiện mục đích đã chọn. Khóa luận tổng hợp các quan niệm về tự học của N.A. Rubakin, Nguyễn Cảnh Toàn, Lưu Xuân Mới, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức, R. Retke để đưa ra định nghĩa: tự học là quá trình hoạt động nhận thức của mỗi người, quyết định chất lượng chiếm lĩnh tri thức và phát triển nhân cách, đòi hỏi nỗ lực, tự giác và kiên trì. Khái niệm "ý thức tự học" được xác định là khả năng hình thành thái độ, động cơ, mục đích tự giác; tự đặt mục tiêu, lựa chọn phương pháp, tự kiểm tra đánh giá và khắc phục sai sót. Các văn bản pháp lý và đường lối giáo dục được sử dụng gồm: Điều 5 Luật Giáo dục 2005, Điều 4 Luật Giáo dục 1988 và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 Khóa VIII.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả triển khai hệ thống phương pháp bao gồm:

  • Phương pháp luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu lý luận triết học và tâm lý học - giáo dục học nhằm xác lập khung khái niệm và phân tích các nhân tố tác động đến tự học.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra xã hội học và tâm lý học xã hội bằng bảng hỏi (khảo sát ngẫu nhiên 390 sinh viên về mục đích và hình thức tự học; khảo sát ngẫu nhiên 100 sinh viên về kỹ năng tự học và kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá vào năm 2019); phương pháp quan sát thực tế hoạt động học tập; phương pháp trao đổi, tọa đàm với cán bộ, giảng viên và sinh viên.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp là số liệu điều tra thực tế tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 năm 2019. Dữ liệu thứ cấp trích dẫn từ các văn kiện pháp quy, số liệu tuyển sinh, đào tạo tín chỉ và các công trình nghiên cứu chuyên ngành giáo dục học, triết học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số lý luận cơ bản về bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên các trường đại học

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận từ các khái niệm công cụ: ý thức, tự học, ý thức tự học, bồi dưỡng và sinh viên (nguồn gốc từ tiếng Latinh "Student"). Tác giả phân tích 4 nội dung cấu thành ý thức tự học của sinh viên:

  1. Kiến thức về phương pháp và hình thức tự học: Nắm vững quy trình xử lý thông tin (tiếp nhận, xử lý, ghi nhớ và diễn đạt lại); làm chủ các hình thức tự học: tự học không có hướng dẫn (qua sách hoặc qua hướng dẫn từ xa), tự học có giảng viên hướng dẫn (trên lớp và ở nhà), và tự học tại thư viện.
  2. Động cơ và thái độ đối với việc tự học: Phân biệt động cơ nhận thức nội sinh (xuất phát từ nhu cầu hiểu biết) và động cơ trách nhiệm ngoại sinh (nghĩa vụ với gia đình, xã hội); hình thành thái độ tự giác, trung thực, cầu tiến và không thỏa mãn với kết quả trước mắt.
  3. Kỹ năng xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học: Lập thời gian biểu khoa học (ngày, tuần, tháng, học kỳ) gắn với 4 nhóm kỹ năng: khai thác tài liệu, làm việc với sách, khắc sâu kiến thức và giải tỏa mệt mỏi.
  4. Năng lực tự kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm: Thiết lập mối liên hệ ngược trong nhận thức, tự đối thoại để nhận diện ưu khuyết điểm và tự điều chỉnh hành vi học tập.

Chương này cũng phân tích tính cấp thiết của việc bồi dưỡng ý thức tự học xuất phát từ đặc thù học chế tín chỉ: thời lượng tự học chiếm 2/3; bài giảng chia làm ba thành phần (bắt buộc phải biết, nên biết, có thể biết). Đồng thời, tác giả chỉ ra bốn nhân tố ảnh hưởng: chất lượng cơ sở vật chất - trang thiết bị; vai trò định hướng, gợi mở, hỗ trợ và kiểm tra của giảng viên; nhận thức của sinh viên; động cơ, hứng thú và ý chí vượt khó.

Chương 2: Thực trạng tự học của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay và nguyên nhân của thực trạng

Tác giả khái quát bối cảnh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2: cơ sở đào tạo giáo viên chủ lực cho khu vực trung du, miền núi phía Bắc, tuyển sinh đầu vào mức cao, sinh viên độ tuổi 18-24 có sự hoàn thiện về tâm sinh lý nhưng đòi hỏi tính tự lập cao khi chuyển sang học chế tín chỉ. Thực trạng tự học được phân tích qua các cuộc điều tra thực tế năm 2019:

  • Về hình thức tự học (khảo sát 390 sinh viên): Tỷ lệ sinh viên duy trì các hình thức tự học ở mức "thường xuyên" chỉ dao động từ 19,7% đến 33,1%. Trong đó, hình thức học theo nhóm đạt 33,1% thường xuyên (56,4% thỉnh thoảng, 10,5% chưa bao giờ); ghi chép bài cẩn thận đạt 31,8% thường xuyên. Đáng chú ý, hình thức "lên thư viện học bài" có tỷ lệ thường xuyên thấp nhất (19,7%), thỉnh thoảng 46,2% và tỷ lệ "chưa bao giờ" lên tới 34,1%.
  • Về động cơ, mục đích tự học (khảo sát 390 sinh viên): Mục đích chiếm tỷ lệ cao nhất là "biết thêm nhiều tri thức" với 71,9%; tiếp theo là "qua môn" chiếm 12,1%; "điểm cao" chiếm 8,5% và "lấy học bổng" chiếm 7,5%.
  • Về kỹ năng tự học và tự đánh giá (khảo sát 100 sinh viên): Hơn 50% đến 66% sinh viên chưa thành thạo các kỹ năng cốt lõi. Cụ thể: kỹ năng xác định mục tiêu học tập có 63,0% chưa thành thạo; lựa chọn vấn đề tự học có 64,0% chưa thành thạo; làm việc với sách và tài liệu tham khảo có 64,0% chưa thành thạo; hệ thống hóa kiến thức có 60,0% chưa thành thạo; tự phát hiện vấn đề nghiên cứu có 66,0% chưa thành thạo. Đối với kỹ năng tự đánh giá, 63,0% chưa thành thạo tự nhận diện điểm mạnh, điểm yếu (10,0% chưa có kỹ năng); 65,0% chưa thành thạo tự đánh giá kết quả và tự điều chỉnh hành vi (6,0% chưa có kỹ năng).

Nguyên nhân của thực trạng được chia làm hai nhóm:

  • Nguyên nhân khách quan: Dung lượng chương trình và độ khó môn học; nguồn học liệu và khả năng tiếp cận thông tin; điều kiện kinh tế gia đình; phương pháp và nhân cách giảng viên; bầu không khí học tập của tập thể lớp; áp lực bố trí quỹ thời gian.
  • Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức sai lệch xem đại học là điểm "xả hơi" sau kỳ thi phổ thông dẫn đến chủ quan, tụt dốc; thói quen lười vận động trí óc; áp lực trước các môn học khó dẫn đến tâm lý đối phó, xem việc học lại, thi lại là điều bình thường.

Chương 3: Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay

Dựa trên thực trạng và nguyên nhân, tác giả xây dựng hệ thống biện pháp tác động đồng bộ (trong phạm vi văn bản được trích xuất):

  • Nhóm biện pháp hoàn thiện cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ tự học:
    • Bảo đảm cơ sở vật chất, học liệu phục vụ tự học: Lãnh đạo nhà trường và các phòng ban chức năng lập kế hoạch cung ứng giáo trình, tài liệu chuyên khảo, phòng học, phòng máy chiếu và trang thiết bị đạt chuẩn về ánh sáng, kích thước.
    • Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất hiện đại và hoạt động thư viện: Kéo dài thời lượng mở cửa thư viện để phục vụ sinh viên tự học ngoài giờ lên lớp; lắp đặt hệ thống máy tính kết nối Internet tốc độ cao; bổ sung đầu sách tham khảo, giáo trình phục vụ các ngành đào tạo; tổ chức các hoạt động giới thiệu sách và thi tìm hiểu sách; cập nhật thường xuyên các công trình nghiên cứu khoa học.
  • Nhóm biện pháp về kiểm tra, đánh giá (nêu trong mục lục đề tài): Giảng viên cần nâng cao yêu cầu và thường xuyên kiểm tra, đánh giá phần kiến thức tự học nhằm định hướng tư duy và buộc sinh viên chuyển hóa ý thức tự học thành hành động thực tế.
  • Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức (nêu trong mục lục đề tài): Nhà trường và giảng viên đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nhận thức về vai trò, mục tiêu và phương pháp tự học khoa học cho sinh viên trong toàn trường.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về thực trạng tự học của sinh viên sư phạm trong mô hình đào tạo tín chỉ thông qua các bảng số liệu thực tế:

Bảng 1: Mục đích tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (n = 390)

Mục đích tự học Tỷ lệ (%)
Biết thêm nhiều tri thức 71,9%
Qua môn 12,1%
Điểm cao 8,5%
Lấy học bổng 7,5%

Bảng 2: Mức độ thực hiện các hình thức tự học của sinh viên (n = 390)

STT Hình thức tự học Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ
1 Học theo nhóm 33,1% 56,4% 10,5%
2 Chuẩn bị trước bài ở nhà 30,0% 59,5% 10,5%
3 Trao đổi bài với giảng viên và bạn học 29,7% 56,4% 13,8%
4 Lên thư viện học bài 19,7% 46,2% 34,1%
5 Ghi chép bài cẩn thận 31,8% 56,2% 12,1%
6 Lựa chọn không gian yên tĩnh học bài 32,3% 56,4% 11,3%
7 Sử dụng sơ đồ tư duy 30,0% 57,7% 12,3%
8 Tiếp cận sách tham khảo ngoài giáo trình 30,3% 57,7% 12,1%
9 Thường xuyên liên hệ thực tiễn 31,0% 57,9% 11,0%
10 Đề ra kế hoạch học tập 32,1% 56,7% 11,3%
11 Ôn lại kiến thức đã học 30,3% 57,4% 12,3%

Bảng 3: Thực trạng kỹ năng tự học và tự đánh giá của sinh viên (n = 100)

STT Kỹ năng khảo sát Thành thạo Chưa thành thạo Chưa có
1 Xác định mục tiêu học tập rõ ràng 33,0% 63,0% 4,0%
2 Lựa chọn các vấn đề tự học cần thiết 33,0% 64,0% 3,0%
3 Chọn lựa phương pháp tự học thích hợp 35,0% 59,0% 6,0%
4 Phân bổ thời gian hợp lý tự học các môn 35,0% 61,0% 4,0%
5 Làm việc với sách và tài liệu tham khảo 27,0% 64,0% 9,0%
6 Hệ thống hóa kiến thức đã học 32,0% 60,0% 8,0%
7 Tự phát hiện vấn đề tự học và nghiên cứu 31,3% 66,0% 3,0%
8 Vận dụng lý thuyết giải bài tập cụ thể 33,3% 58,6% 8,1%
9 Tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu 27,0% 63,0% 10,0%
10 Tự đánh giá kết quả và tự điều chỉnh hành vi 29,0% 65,0% 6,0%

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự chỉ rõ: các công trình trước đây (của Nguyễn Cảnh Toàn, Phan Quốc Lâm, Dương Thị Linh, Dương Hoài Văn) chủ yếu tiếp cận kỹ năng hoặc quản lý tự học chung; khóa luận là công trình chuyên biệt tiếp cận "ý thức tự học" dưới lăng kính triết học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Công trình làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức nội tại (tri thức, tình cảm, ý chí) và điều kiện khách quan (học chế tín chỉ, cơ sở vật chất, vai trò giảng viên), qua đó đề xuất hệ thống giải pháp gắn với điều kiện thực tế của nhà trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn được tác giả và văn bản xác định:

  • Tác giả tự nhận định trong lời cảm ơn về những giới hạn thời gian và kiến thức bản thân dẫn đến việc nghiên cứu khó tránh khỏi thiếu sót.
  • Phạm vi không gian và thời gian bị khống chế: Đề tài chỉ khảo sát nội bộ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong giai đoạn 2015 - 2016 đến 2018 - 2019; cỡ mẫu khảo sát kỹ năng dừng ở mức 100 sinh viên, chưa phân tầng sâu theo từng khoa, từng năm đào tạo.
  • Giới hạn văn bản: Bản trích đoạn khóa luận bị gián đoạn ở phần đầu Chương 3 (mục 3.1.2), chưa thể hiện trọn vẹn toàn bộ các tiểu mục giải pháp chi tiết của giảng viên và nhà trường.

Hướng nghiên cứu tiếp có thể mở rộng khảo sát đối chứng trên nhiều cơ sở giáo dục đại học sư phạm khác, hoặc thực nghiệm đo lường hiệu quả sau khi áp dụng các giải pháp tác động từ phía giảng viên và hệ thống thư viện.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên các ngành Triết học, Giáo dục Chính trị và Sư phạm: Tham khảo phương pháp tiếp cận một vấn đề giáo dục học dưới góc độ lý luận triết học mác-xít; học tập phương pháp xây dựng kế hoạch, kỹ năng làm việc với sách và kỹ năng tự kiểm tra đánh giá trình bày tại Chương 1.
  • Giảng viên đại học: Sử dụng các gợi ý về phương pháp định hướng, gợi mở, hỗ trợ và kỹ thuật kiểm tra đánh giá giờ tự học tín chỉ.
  • Cán bộ quản lý đào tạo và thư viện: Tham khảo số liệu thực trạng ở Chương 2 để nắm bắt nhu cầu học liệu, thời gian biểu và mức độ sử dụng thư viện của sinh viên, từ đó điều chỉnh chính sách mở cửa và cung cấp học liệu.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục đích tự học lớn nhất của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 theo kết quả khảo sát là gì? Khảo sát 390 sinh viên năm 2019 cho thấy mục đích lớn nhất là "biết thêm nhiều tri thức" chiếm 71,9%. Các mục đích còn lại gồm "qua môn" (12,1%), "điểm cao" (8,5%) và "lấy học bổng" (7,5%).

2. Hình thức tự học nào có tỷ lệ sinh viên "chưa bao giờ" tham gia cao nhất? Hình thức "lên thư viện học bài" có tỷ lệ sinh viên "chưa bao giờ" thực hiện cao nhất, chiếm 34,1% (chỉ có 19,7% sinh viên duy trì thường xuyên và 46,2% thỉnh thoảng).

3. Khảo sát 100 sinh viên về kỹ năng tự học chỉ ra những điểm yếu nào nổi bật nhất? Kỹ năng có tỷ lệ sinh viên "chưa thành thạo" cao nhất là tự phát hiện vấn đề tự học và nghiên cứu (66,0%), tự đánh giá kết quả và tự điều chỉnh hành vi (65,0%), làm việc với sách và tài liệu tham khảo (64,0%), lựa chọn vấn đề tự học cần thiết (64,0%), tự đánh giá điểm mạnh điểm yếu (63,0%) và xác định mục tiêu học tập (63,0%).

4. Nội dung bài giảng trong đào tạo tín chỉ được khóa luận phân chia thành những phần nào? Một bài giảng tín chỉ gồm ba thành phần: (1) Phần nội dung bắt buộc phải biết (giảng trực tiếp trên lớp); (2) Phần nội dung nên biết (giảng viên hướng dẫn cụ thể để sinh viên tự học ngoài lớp); (3) Phần nội dung có thể biết (dành riêng cho sinh viên tự học, chuẩn bị bài, làm bài tập, thảo luận nhóm và làm thí nghiệm).

5. Cấu trúc của ý thức theo quan điểm triết học Mác - Lênin được khóa luận xác định gồm những yếu tố nào? Xét theo chiều ngang, ý thức gồm tri thức, tình cảm, niềm tin và lý trí. Trong đó, tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi nhất; ý chí là mặt năng động thể hiện khả năng tự làm chủ và quyết tâm hành động hướng đến mục đích.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phùng Tố Uyên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận triết học về ý thức tự học và đánh giá khách quan thực trạng tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong đào tạo tín chỉ giai đoạn 2015 - 2019. Kết quả khảo sát thực nghiệm cung cấp bằng chứng rõ nét về sự thiếu hụt các kỹ năng học tập độc lập và mức độ sử dụng thư viện còn thấp của sinh viên sư phạm. Các giải pháp đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện cơ sở vật chất, đổi mới hoạt động thư viện và gắn trách nhiệm đánh giá của giảng viên, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nâng cao chất lượng đào tạo đại học.