CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, HIỆU QUẢ QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỊA PHƯƠNG 1. Khoa học và công nghệ, phát triển khoa học và công nghệ Khoa học là tập hợp những hiểu biết và tư duy nhằm khám phá những thuộc tính tồn tại khách quan của các hiện tượng tự nhiên và xã hội [7,Tr 233]. Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục vụ cho đời sống xã hội [7,Tr 235]. Phát triển khoa học và công nghệ là quá trình tăng tiến toàn diện, biến đổi cả về lượng và về chất của khoa học và công nghệ một quốc gia, một địa phương hay vùng lãnh thổ trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị xã hội, có tác động tích cực tới tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội của một địa phương hay vùng lãnh thổ.
Phát triển khoa học và công nghệ được thể hiện thông qua việc gia tăng hoạt động tìm kiếm, phát hiện các nguyên lý, quy luật của quá trình phát triển và những biện pháp thúc đẩy phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy và các hoạt động nhằm áp dụng những kết quả tìm kiếm, phát hiện vào thực tiễn sản xuất và đòi sống nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế xã hội 1. Vai trò của khoa học và công nghệ, phát triển khoa học và công nghệ Khoa học và công nghệ là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Do đó việc phát triển khoa học và công nghệ là điều tất yếu nếu muốn phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Khoa học và công nghệ tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế thông qua năng suất yếu tổ tổng hợp.
Năng suất lao động tổng hợp phản ảnh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, qua đó sự gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào mà còn tùy thuộc vào chất lượng của các yếu tố đầu vào là lao động và vốn. Cùng với lượng đầu vào như nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào 5 việc cải tiến chất lượng của lao động, vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này. Mặt khác, khi kinh tế xã hội phát triển sẽ có tác động thúc đẩy trở lai khoa học và công nghệ phát triển do có sự tích lũy nguồn lực vốn, con người đầu tư cho khoa học và công nghệ thông qua đầu tư cho đổi mới công nghệ, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, triển khai, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ 1.
Khái niệm quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ là một hình thức của quỹ ngoài ngân sách hiện nay tai Việt Nam. Hiện nay chưa có một quy định cụ thể mà trong đó nêu ra định nghĩa cụ thể về quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Tuy nhiên trên thực tiễn và các nghiên cứu đã co có thể định nghĩa Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ như sau: Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ là tổ chức tài chính, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhằm hỗ trợ triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong nước, các kết quả nghiên cứu có triển vọng thành sản phẩm có tiềm năng thương mại và thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất. Mục tiêu quỹ phát triển khoa học và công nghệ Mục tiêu của quỹ phát triển khoa học và công nghệ là nhằm hỗ trợ thêm cho ngân sách nhà nước trong việc phát triển khoa học và công nghệ trong khi việc phát triển khoa học công nghệ nhằm phát triển kinh tế xã hội là bản chất thuộc về trách nhiệm của nhà nước nhưng nguồn ngân sách còn hạn chế.
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng tài trợ, cho vay để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do tổ chức, cá nhân đề xuất như các nghiên cứu cơ bản, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đột xuất mới phát sinh có ý nghĩa quan trọng về khoa học và thực tiễn, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có triển vọng nhưng có tính rủi ro, các dự án sản xuất thử nghiệm; nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc hướng khoa học và công nghệ ưu tiên của Nhà nước do doanh nghiệp thực hiện, các dự án 6 ứng dụng, chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả các hoạt động kinh tế - xã hội. Đặc điểm quỹ phát triển khoa học và công nghệ Thứ nhất, về chủ thể thành lập và quản lý quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ ra đời trên thế giới là tổ chức phi tín dụng, phi ngân hàng, không vụ lợi và thường có 3 hình thái tổ chức: Do cá nhân thành lập và cấp kinh phí cho quỹ hoạt động; Do cộng đồng khoa học thành lập theo cơ chế dân chủ (dạng hội) và hàng năm nhà nước ủy thác cho quỹ một khoản tiền để quỹ cấp kinh phí cho các hoạt động khoa học và công nghệ (hình thức tự quản); Do nhà nước thành lập theo luật pháp dân sự và hằng năm, nhà nước dành một khoản kinh phí từ ngân sách nhà nước, hoặc một khoản kinh phí công ích cho quỹ hoạt động. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và thực chất là quỹ tài chính công ngoài ngân sách nhà nước nên chủ thể quyết định việc thành lập, tổ chức bộ máy quản lý, huy động nguồn vốn và sử dụng loại hình quỹ này là nhà nước.
Thứ hai về nguyên tắc hoạt động. Đặc trưng lớn nhất của quỹ là tổ chức, bộ máy và phương thức hoạt động là đề cao tính tự quản, dân chủ và công khai. Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, về cơ bản, quỹ sẽ cấp 100% kinh phí cho các đề tài. Đối với hoạt động nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm, quỹ hỗ trợ trực tiếp một phần hoặc dùng các công cụ tài chính gián tiếp, như: thuế, tín dụng để thúc đẩy hoạt động này của doanh nghiệp.
Kinh phí cho quỹ lấy từ ngân sách dành cho khoa học và công nghệ, do vậy các quỹ quan tâm đến các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc phạm vi trách nhiệm của nhà nước phải thực hiện; còn đối với các hoạt động khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, các quỹ chỉ hỗ trợ một phần, còn phần chính là phải do các doanh nghiệp tự đầu tư thực hiện. Như vậy, quỹ phát triển khoa học và công nghệ được hiểu là quỹ tiền tệ tập trung do Nhà nước thành lập, quản lý và sử dụng nhằm tài trợ, cấp kinh phí, cho vay, bảo lãnh cho vay vốn và hỗ trợ nâng cao năng lực khoa học và công nghệ. 7 Thứ ba về bản chất, mục đích, quỹ phát triển khoa học và công nghệ là một định chế tài chính đặc biệt, khác với các định chế tài chính khác đó là tổ chức tài chính hoạt động phi lợi nhuận để tài trợ không hoàn lại, hoặc có hoàn lại, cho vay với lãi suất thấp hoặc không lấy lãi nhằm hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ. Theo đó, quỹ phát triển khoa học và công nghệ không phải là tổ chức kinh doanh giống như như tổ chức tín dụng, hoạt động của quỹ cũng khác với hoạt động ngân hàng và hoạt động tín dụng, vì mục đích của quỹ, cũng như nội dung đầu tư của quỹ khác với đầu tư tín dụng.
Đầu tư của quỹ phát triển khoa học và công nghệ mang tính hỗ trợ trên cơ sở những điều kiện đã có của các tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ, dự án sản xuất thử nghiệm, ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ. Thứ tư, về nguồn tài chính quỹ phát triển khoa học và công nghệ được hình thành từ sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội và sự hỗ trợ của từ ngân sách nhà nước. Theo đó, việc hỗ trợ từ ngân sách là không hoàn toàn bắt buộc, Vốn được cấp khi thành lập ban đầu của các quỹ không lớn, được hình thành từ ngân sách sự nghiệp khoa học, bổ sung từ kinh phí thu hồi của các đề tài, dự án hàng năm, các khoản thu từ hoạt động của quỹ. Ngoài ra, quỹ có thể được huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách khác như: Các khoản đóng góp tự nguyện, tài trợ, hiến tặng của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Đa dạng hóa nguồn vốn cho hoạt động khoa học và công nghệ, ngoài phần vốn do ngân sách nhà nước cấp, quỹ còn được huy động nhiều nguồn vốn khác trong xã hội thông qua các chính sách khuyến khích của Nhà nước. Đây là một trong các biện pháp để xã hội hóa nguồn vốn cho hoạt động khoa học và công nghệ, khắc phục tình trạng bao cấp đối với hoạt động khoa học và công nghệ. Thứ năm, về hình thức, các quỹ phát triển khoa học và công nghệ các địa phương hoạt động theo hình thức đơn vị sự nghiệp có thu, không vì mục đích lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và các ngân hàng. Các quỹ là các đơn vị trực thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Vốn được cấp khi thành lập ban đầu của các quỹ không 8 lớn, được hình thành từ ngân sách sự nghiệp khoa học, bổ sung từ kinh phí thu hồi của các đề tài, dự án hàng năm, các khoản thu từ hoạt động của quỹ.