CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỒ SƠN 1. Công đoàn cơ sở 1. Khái niệm công đoàn cơ sở Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[1]. Đó là những cơ sở pháp lý để tổ chức công đoàn các cấp và cán bộ công đoàn tổ chức thực hiện và tuân thủ theo quy định của Hiến pháp.
Nhà nước đã ban hành các chính sách, luật pháp liên quan đến GCCN, tổ chức Công đoàn và cán bộ công đoàn. “Trích Điều 10 “Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 2013” Công đoàn cơ sở được thành lập ở các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các đơn vị sự nghiệp và các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội có 5 đoàn viên trở lên và được công đoàn cấp trên quyết định công nhận[12]. Nghiệp đoàn là tổ chức cơ sở của công đoàn, tập hợp những người lao động tự do hợp pháp cùng ngành, nghề được thành lập theo địa bàn hoặc theo đơn vị lao động có 10 đoàn viên trở lên và được công đoàn cấp trên là LĐLĐ các quận, huyện, công đoàn ngành địa phương trực tiếp ra quyết định thành lập (hoặc giải thể) và chỉ đạo hoạt động [12]. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ công đoàn Cán bộ công đoàn là người đem chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước tuyên truyền cho nhân dân, cán bộ, đoàn viên, hội viên hiểu rõ và thi hành, đồng thời tập hợp những vướng mắc của đông đảo nhân dân, đoàn viên, hội viên phản ánh lại cho Đảng và Nhà nước để Đảng và Nhà nước định ra chính sách cho đúng.
Cán bộ đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện đường lối và nhiệm vụ chính trị[3]. 5 Là người sớm tham gia phong trào công nhân, dày công nghiên cứu phong trào công đoàn, Bác Hồ đã cụ thể hóa phương pháp hoạt động công đoàn bằng phương châm dễ nhớ, dễ làm “Cán bộ công đoàn phải cùng ăn, ở, làm việc và bàn bạc với công nhân”[5]. Đó là phong cách cần có của cán bộ công đoàn mà Bác đã rút ra từ thực tiễn đào tạo, rèn luyện cán bộ cách mạng, cán bộ làm công tác vận động quần chúng. Bởi theo Bác “Cán bộ công đoàn phải nắm vững chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, lãnh đạo phải dân chủ, phải cùng công nhân đồng cam cộng khổ, phải hòa mình với công nhân thành một khối, phải gương mẫu.
Cán bộ công đoàn phải hiểu biết sản xuất, đời sống, nguyện vọng của công nhân, lao động, phải hiểu biết chính sách của Đảng, phải hiểu quản lý kinh tế, khoa học kỹ thuật"[5]. Mọi việc công đoàn làm phải vì lợi ích của người lao động, mục đích của công đoàn là phải cải thiện dần đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân lao động nói chung. Lời chỉ dẫn ân cần của Bác với cán bộ công đoàn cần: Phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Chính vì vậy, Bác quan niệm cán bộ công đoàn “Phải giỏi cả về chính trị, thành thạo về kinh tế” thì mới lãnh đạo được đội ngũ công nhân ngày càng phát triển lại có trình độ cả về tư tưởng văn hóa, kỹ thuật.
“Cán bộ công đoàn phải tham gia lao động gần gũi công nhân, viên chức” phải biết dựa vào quần chúng, phát huy sức sáng tạo của quần chúng, học tập kinh nghiệm của quần chúng… thì mới làm tròn được nhiệm vụ của mình. Cán bộ công đoàn là trung tâm của đoàn kết, phải có trách nhiệm cao, vì lợi ích giai cấp, vì lợi ích cách mạng “Muốn giáo dục tốt công nhân, trước hết đội ngũ cán bộ công đoàn phải đoàn kết nhất trí., phải kiên quyết xây dựng cho được sự đoàn kết nhất trí trong hệ thống Công đoàn…”. Cán bộ công đoàn cần phải tích cực không ngừng để nâng cao trình độ về mọi mặt. Người nói: “Kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, hàng ngũ công nhân ngày càng đông.
Muốn làm tròn nhiệm vụ của mình thì cán bộ công đoàn phải cố gắng học tập vươn lên để không ngừng tiến bộ. Có học tập mới hiểu được khoa học, có hiểu được khoa học mới tổ chức được phong trào”. 6 Theo Điều 5, Điều lệ Công đoàn Việt Nam: Cán bộ công đoàn là người đảm nhiệm chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn; được cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định, công nhận, bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn[2]. Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XI xác định: Cán bộ công đoàn bao gồm: Tổ trưởng, tổ phó công đoàn, ủy viên ban chấp hành công đoàn, ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn, ủy viên các ban quần chúng công đoàn các cấp thông qua kết quả bầu cử, hoặc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định.
Cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy của tổ chức công đoàn các cấp. Như vậy cán bộ công đoàn cơ sở: là những cán bộ đảm nhiệm chức danh từ Tổ trưởng, tổ phó công đoàn, ủy viên ban chấp hành công đoàn, ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn, thông qua kết quả bầu cử; hoặc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định[2]. Vậy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ công đoàn và quy định của Điều lệ Công đoàn về cán bộ công đoàn không chuyên trách (cán bộ CĐCS) đến nay vẫn là định hướng quý báu cho sự phát triển của tổ chức Công đoàn và việc xây dựng đội ngũ cán bộ CĐCS nước ta. Vị trí của công đoàn cơ sở Là người đại diện cho tập thể người lao động, thay mặt người lao động động có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động; tham gia trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội”[2].
, cụ thể là: CĐCS tham gia đổi mới và thực hiện cơ chế quản lý kinh tế mới; công đoàn tham gia cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh hoạt động công đoàn trong các thành phần kinh tế, vận động người lao động nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế. Cán bộ CĐCS góp phần tích cực vào việc xây dựng và nâng cao hiệu quả hệ thống chính trị, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với người lao động. CĐCS phải tuyên truyền, giáo dục người lao động không ngừng nâng cao trình độ, tính tổ chức, kỷ luật. Giáo dục người lao động nâng cao lập trường giai cấp công nhân, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, lòng tự hào, tự tôn dân tộc.
Vai trò của công đoàn cơ sở CĐCS có vai trò tuyên truyền giáo dục, nâng cao hiểu biết cho đoàn viên, CNVCLĐ về pháp luật, pháp luật công đoàn. Đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ: tham gia thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, hợp đồng lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; đôn đốc doanh nghiệp, chủ dử dụng lao động mua BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động[13]. Tham gia hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động, đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, tại doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị. Tham gia với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp và tổ chức đại diện người sử dụng lao động để trao đổi, giải quyết các vấn đề về lao động.
Công đoàn cơ sở là nơi giải quyết những khúc mắc của người lao động, tham gia ý kiến trong việc tổ chức bữa ăn ca cho người lao động. Góp ý với chủ sử dụng lao động về môi trường làm việc, thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động[13]. Chức năng của công đoàn cơ sở Là người đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của CNVCLĐ. Lợi ích hợp pháp chính đáng của CNLĐ bao gồm lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần.
Lợi ích vật chất đối với CNLĐ hiện nay là bảo đảm việc làm ổn định, phù hợp với năng lực, trình độ, sức khỏe, thời gian lao động hợp lý, có thu nhập tương xứng với kết quả lao động và đảm bảo đời sống của bản thân, gia đình, cải thiện điều kiện lao động. Lợi ích tinh thần là mọi người được đối xử bình đẳng, được tạo điều kiện, cơ hội như nhau trong lao động, học tập và công tác, được quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần[3]. Để thực hiện được chức năng đó cán bộ công đoàn cần: Hướng dẫn, giúp đỡ người lao động ký giao kết hợp động lao động với người sử dụng lao động theo quy định của Bộ Luật lao động. Đại diện cho CNLĐ tham gia xây dựng Thỏa ước lao động tập thể và thương lượng ký thỏa ước lao động tập thể với người sử dụng lao động và giám sát việc thực hiện những quy định trong Thỏa ước lao động tập thể do các bên đã 8 ký.
Giám sát việc thực hiện pháp Luật an toàn vệ sinh lao động, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, BHTN[12]. Tổ chức giúp đỡ CNLĐ phát triển kinh tế gia đình, giúp CNLĐ được vay vốn từ ngân hàng để tăng gia sản xuất cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho gia đình. Phải tham gia quản lý trong các đơn vị cơ sở Tham gia quản lý là một trong những chức năng của tổ chức công đoàn.