CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về quá trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Trên thế giới có công trình của V.V Đavưđôv: Các dạng khái quát hóa trong dạy học ( Những vấn đề logic – tâm lí học của cấu trúc các môn học). Trong tại liệu này, V.V Đa vưđôv có trích dẫn một số quan điểm của một số tác giả về KQH như: Theo L.X Vưgotxki: “ Từ quan điểm tâm lí học, trước hết nghĩa của từ là sự KQH.
Nhưng, dễ nhận thấy rằng KQH là thao tác từ ngữ đặc biệtcủa ý nghĩ, phản ánh hiện thực hoàn toàn khác so với nó được phản ánh trong các cảm giác và tri giác trực tiếp. Giao tiếp tất yếu đòi hỏi sự khái quát và phát triển ý nghĩa của từ, nghĩa là KQH trở thành khả năng có thể trong quá trình phát triển giao tiếp… Có đầy đủ cơ sở để coi nghĩa của từ không chỉ là sự thống nhất của tư duy và ngôn ngữ mà còn là sự thống nhất của KQH và giao tiếp, sự thông tin và tư duy” [4, tr.X Vưgotxki đã phát biểu các luận điểm trên, hướng chúng vào việc chống lại khuynh hướng tự nhiên luận và sinh học luận trong tâm lí học. Ông định hướng vào nghiên cứu các dạng ý nghĩa hết sức phong phú. Trong các tác phẩm của mình và cộng sự ông đã nghiên cứu quá trình hình thành khái niệm nhân tạo ở trẻ em thuộc các độ tuổi khác nhau cũng như tiến hành nghiên cứu sự hình thành khái niệm thông thường và khái niệm khoa học.
Tự nghiên cứu trên ông đã tách ra ba mức độ khái quát cơ bản có liên quan đặc thù mang tính phát sinh về chất là: Cụ thể tổng hợp; Tổ hợp; Khái niệm. Việc mô tả giải thích về mặt lí luận các dạng KQH trên đặc biệt là KQH mang tính khái niệm là công lao khoa học to lớn của L. Ông đã đi đến kết luận về sự cần thiết phân biệt các khái niệm mang tính chất suy luận – kinh nghiệm và các khái niệm líathuyết đơn thuần mang tính khoa học. Ông đã vạch ra tính chưa đầy đủ của đặc trưng tâm lí của KQH – trong đó có cả 8 z khái quát hóa mang tính khái niệm.Vưgotxki đi sâu nghiên cứu KQH về khía cạnh tâm lí học, KQH với quá trình nhận thực của trẻ em.L Rubinstein, trình độ và đặc điểm của KQH phụ thuộc chủ yếu vào mức độ và chiều sâu của phân tích bài tập chính, vào tính thuần nhất của việc tách các quan hệ bản chất của nó.
Việc KQH diễn ra khi nào và như thế nào phụ thuộc vào việc phân tích bài tập chính. Nếu các điều kiện cơ bản của lời giải không đủ đơn thuần tách khỏi các tình tiết phụ, mà trong đó bài tập lúc đầu được đưa ra thì tính khái quát hoá của lời giải hoặc là hoàn toàn không có hoặc rất nhỏ. Trong trường hợp này, suy cho cùng sự khái quát đạt được dưới dạng một quá trình lâu dài đầy đủ bằng con đường đối chiếu và so sánh các cách giải khác nhau, trong đó diễn ra quá trình tách ra cái chung với nghĩa là cái giống nhau. Nếu phân tích và trừu tượng hoá được tiến hành đủ sâu sắc và cho phép dưới dạng thuần nhất tách riêng các mối lien hệ bản chất để giải bài tập thì bài tập này được giải không chỉ cho 1 trường hợp riêng mà về phương diện lý luận còn cho tất cả các trường hợp cùng loại.
Lời giải thu được trong trường hợp đơn lẻ có ý nghĩa khái quát, tư duy KQH ở trình độ tương đối cao, đó là tư duy lý luận. Như vậy khái quát lời giải các bài tập có thể bằng 2 con đường: con đường kinh nghiệm và con đường lý luận. Con đường kinh nghiệm được thực hiện qua so sánh lời giải của 2 hay nhiều bài tập cùng loại, mỗi bài được giải riêng một cách tương đối độc lập thông qua thử và sai, trong những lời giải đó dần dần tìm ra những điểm giống nhau và đưa đến KQH. KQH bằng con đường lý luận xảy ra dựa vào phân tích các điều kiện và yêu cầu một bài toán cho phép trừu tượng hoá sự phụ thuộc bản chất của nó.
Nhờ đó lời giải bài tập ngay lập tức có ý nghĩa khái quát và ngay tại chỗ được chuyển sang một lớp bài tập, đảm bảo cách tiếp cận lý luận đối với chúng từ lập trường của cách giải thống nhất. Như vậy xem xét các công trình của X.Rubinstein cho thấy, theo ông dạng KQH thứ hai độc đáo hơn dạng thứ nhất, các giai đoạn phân tích ban đầu cung cấp KQH đơn giản, còn các giai 9 z đoạn sau dẫn đến khái quát mang tính lý luận. Nói cách khác KQH kinh nghiệm như là kết quả của giai đoạn phân tích ban đầu thể hiện với tư cách là tiền đề của KQH lý luận.Rubinstein có ba con đường KQH: - KQH kinh nghiệm đơn giản. - KQH thông qua phân tích và trừu tượng hoá.
- KQH bằng con đường chứng minh. Ở trong nước, hiện nay chưa có công trình nào viết riêng về KQH mà chỉ được đề cập đến trong tâm lí học. Trong lí luận dạy học và phương pháp dạy học cũng chưa có công trình nào xây dựng quy trình KQH để dạy học mà chỉ đề cập đến như một thao tác tư duy đơn thuần, chứ chưa được coi là công cụ là phương tiện để hình thành các loại kiến thức cho HS như: Kiến thức khái niệm, kiến thức tính quy luật 1. Khái niệm về khái quát 1.
Khái niệm về khái quát Khái quát là một hình thái vận động của tư duy khoa học, loại bỏ những mặt, những thuộc tính và những đặc điểm riêng lẻ của một nhóm sự vật, hiện tượng, quá trình cùng loại đang nghiên cứu, rút ra những đặc trưng chung, bản chất của chúng và phản ánh những đặc trưng chúng ấy bằng một khái niệm, một phán đoán khoa học hoặc bằng một quy luật. Đó là quá trình đi từ cái cụ thể, cảm tính đơn giản nhất đến cái lí tính, cái chung, từ một tri trức ít chung hơn đến một tri thức chung hơn. Việc tách các thuộc tính chung và hình thành lớp đối tượng có liên quan đến sự trừu tượng hóa ( trong tư duy con người) khỏi tập hợp các thuộc tính khác của các sự vật có thực và liên quan đến việc đưa các thuộc tính chung này thành đối tượng tư duy đặc biệt. Việc tách trong tư duy một số thuộc tính của các đối tượng và trừu tượng hóa khỏi các sự vât cụ thể được gọi là trừu tượng hóa.
Chẳng hạn, lá cây vẫn là lá, không phụ 10 z thuộc nó màu gì và hình dáng như thế nào; ô tô vẫn là ô tô không phụ thuộc nó sơn màu gì. Lá và ôtô là thuộc tính trừu tượng. Nhờ khái quát hóa, con người có thể nhận thức hiện thực ngày càng sâu sắc và chính xác hơn. Chủ nghĩa duy tâm đã tách rời khái niệm ra khỏi hiện thực và coi khái niệm là cái có trước mọi kinh nghiệm, không phụ thuộc vào kinh nghiệm của con người.
Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng mọi khái niệm khoa học phải xuất phát từ sự vật khách quan, từ hiện tượng cần nghiên cứu, phải dựa trên những tài liệu do nhận thức cảm tính mang lại để rút ra những đặc trưng chung và chủ yếu của các sự vật hiện tượng đó. Khái niệm về khái quát hóa KQH là quá trình làm cho tri thức nhận thức của con người trở nên khái quát hơn, chung hơn. Thao tác tư duy của con người, dùng trí óc để tập hợp nhiều đối tượng khác nhau nhưng có chung những thuộc tính, liên hệ, quan hệ chung thành một nhóm một loại. Sự KQH đem lại một cái chung, nhưng nếu chỉ dựa trên những dấu hiệu chung giống nhau thì thường hay dẫn đến sai lầm.
Muốn vạch ra được nhưng dấu hiệu chung bản chất thì phải có sự phân tích – tổng hợp sâu sắc đối với sự vật, hiện tượng định khái quát. Ví dụ: Khái niệm lá sẽ chưa đủ nếu ta quan niệm: Lá có hình bản dẹt, màu xanh, có chức năng quang hợp. Đây là những dấu hiệu chung nhưng chưa phải bản chất, dấu hiệu bản chất của lá là: Gốc cuống phải có chồi( chồi nách) hoặc có dấu hiệu của chồi. Dựa vào dấu hiệu này cùng với các dấu hiệu như: hình bản dẹt, màu xanh có khả năng quang hợp người ta có thể xác định được tất cả các dạng lá kể cả lá đã biến dạng.
Quá trình logic chuyển từ cái đơn đến cái chung nhất, từ một tri thức ít chung hơn đến tri thức chung hơn. Ví dụ: chuyển từ khái niệm liên kết gen hoàn toàn sang khái niệm di truyền liên kết. Đống thời trong đối tượng có thể tách ra nhưng dấu hiệu bắt buộc trong mọi trường hợp đều thuộc đối tượng, 11 z nếu thiếu chúng đối tượng không còn tồn tại và theo dấu hiệu này phân biệt nó với tất cả các dấu hiệu khác. Ví dụ: Lớp chim bao gồm các dấu hiệu: có cánh, có lông vũ, dạ dày gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ, đẻ trứng có vỏ đá vôi, chân có lớp vẩy sừng.
Chỉ cần thiếu một trong các dấu hiệu trên là không thể xếp vào lớp chim. Trong logic hình thức truyền thống về hình thành khái niệm đã đề cập tới KQH và trừu tượng hóa các thuộc tính đơn lẻ, bề ngoài của sự vật được quan sát một cách cảm tính. Việc thu được một tri thức khái quát có nghĩa là sự phản ánh hiện thực sâu sắc hơn, đi sâu vào bản chất của hiện thực. Theo logic hình thức truyền thống, các quá trình hình thành biểu tượng và khái niệm có khía cạnh tâm lí riêng.
Chẳng hạn, người ta cho rằng bằng cách quan sát hoặc so sánh trực quan để phát hiện ra cái giống và khác nhau trong sự vật. Việc ghi lại các dấu hiệu là cách đơn giản nhất, còn các dấu hiệu đó giống như những viên gạch đơn giản nhưng khi tổ hợp lại chúng sẽ hình thành một tập hợp các dấu hiệu, với mức độ phức tạp khác nhau, trở thành nội dung của biểu tượng, khái niệm. Cơ chế hình thành khái niệm có đặc trưng là: con người lúc đầu chỉ ghi lại các điểm giống và khác nhau của sự vật thôi từ đó mới sắp xếp tổ hợp các dấu hiệu thành biểu tượng và cuối cùng nhờ phương tiện ngôn ngữ chúng được phân giải thành các dấu hiệu riêng lẻ. Ở đây vừa liên quan đến một từ hoặc một số từ nhất định, vừa liên quan đến biểu tượng chung nào đó.