CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Lý luận chung về huy động vốn đầu tư cho phát triển KT-XH 1. Huy động vốn đầu tư Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển, các chủ thể cần có nguồn lực tài chính nhất định. Chức năng huy động nguồn tài chính, hay còn gọi là chức năng huy động vốn, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Chức năng huy động vốn được thực hiện trên cơ sở tương tác giữa các yếu tố nhu cầu đầu tư (vì lợi nhuận trực tiếp của người đầu tư hoặc vì lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia), nhu cầu và khả năng tiếp nhận vốn đầu tư, hai yếu tố này gặp nhau được hay không còn phụ thuộc vào môi trường chính trị - kinh tế - xã hội – tự nhiên…: - Chủ thể cần vốn: Doanh nghiệp và cơ quan quản lý. - Hệ thống tài chính gồm thị trường tài chính và các định chế tài chính. - Môi trường tài chính và kinh tế. Cần huy động thêm nhiều nguồn lực khi các chủ thể vì nhiều lý do khác nhau không đảm bảo khả năng tự tài trợ.
Việc huy động nguồn vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn. Các chủ thể phải lập chính sách huy động có hiệu quả trên cơ sở tính toán nhu cầu và quy mô vốn cần huy động, lựa chọn các công cụ tài chính và đòn bẩy kinh tế thích hợp. Các yêu cầu đặt ra cho chính sách huy động nguồn vốn là: - Về thời gian: Việc huy động nguồn vốn phải đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn để giảm thiểu các tổn thất phát sinh do thiếu hụt vốn. - Về kinh tế: Chi phí chấp nhận được và có tính cạnh tranh.
8 - Về mặt pháp lý: Mỗi chủ thể phải biết vận dụng các phương pháp huy động thích hợp trong khuôn khổ luật pháp. Trong khu vực công, thuế là phương thức huy động nguồn thu cơ bản để cân đối ngân sách. Khi ngân sách bị mất cân đối, chính phủ phải vay nợ trong và ngoài nước trong giới hạn cho phép để giữ kỷ luật tài khóa. Trong khu vực tư, tùy loại hình tổ chức doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay vay của các định chế tài chính.
Cá nhân, hộ gia đình khi cần vốn có thể vay ở các tổ chức tín dụng… Nhìn chung, hiệu quả huy động nguồn vốn phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của hệ thống tài chính và cơ sở pháp lý ràng buộc. Vai trò của vốn đầu tư Vốn đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và cải thiện chất lượng theo chiều sâu: Nâng cao năng lực cạnh tranh (thông qua ứng dụng khoa học kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao năng suất lao động,…), chuyển dịch cơ cấu kinh tế để khai thác các lợi thế của từng địa phương/quốc gia, chuyển dịch cơ cấu về sở hữu để khai thác thế mạnh của từng thành phần kinh tế, đồng thời bảo vệ môi trường và tài nguyên tự nhiên. Vốn đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vốn đầu tư có vai trò quan trọng đặc biệt trong phát triển kinh tế xã hội tỉnh, thành phố, bởi vốn là điều kiện ban đầu để chuẩn bị những yếu tố cần thiết cho sản xuất kinh doanh. Mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện qua hệ số ICOR (tỷ lệ vốn đầu tư trong GDP để tạo ra 1% tăng trưởng GDP).
Từ chỉ số này được xác định, muốn tăng GDP bao nhiêu phần trăm, cần tăng tương ứng mức độ tích lũy cho đầu tư, nói cách khác, cần tăng nguồn vốn đầu tư với mức độ tương ứng. Ví dụ, hệ số ICOR là 5, để có tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 8%/năm, cần mức đầu tư toàn xã hội trên 40% GDP. Hệ số ICOR càng nhỏ cho thấy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư 9 càng cao. Tác động đó được thể hiện trên nhiều phương diện, tạo thuận lợi hơn cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh Tăng trưởng GDP và phát triển kinh tế ngày nay theo yêu cầu của kinh tế thị trường phải không ngừng nâng cao trình độ công nghệ sản xuất làm nền tảng để nâng cao sức cạnh tranh của các ngành nghề, các địa phương và toàn nền kinh tế. Để nâng cao sức cạnh tranh, ngoài nỗ lực chủ quan, các chủ thể cần có phương tiện, công nghệ ngày càng hiện đại kèm chất lượng của nguồn nhân lực. Những yếu tố đó chỉ có thể mua được khi có vốn đầu tư, cho nên vốn đầu tư là một điều kiện quan trọng để ứng dụng công nghệ hiện đại và nâng cao sức cạnh tranh của từng sản phẩm, ngành hàng, toàn nền kinh tế. Tác động đó được thể hiện qua khác biệt thực tế giữa quốc gia phát triển và đang phát triển.
Tại các nước phát triển, nhờ nguồn vốn đầu tư dồi dào, trình độ khoa học công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế thường cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển. Trên thực tế, công nghệ và vốn đầu tư thường gắn chặt với nhau, đặc biệt trong phương thức đầu tư trực tiếp. Các dự án đầu tư trực tiếp luôn được thực hiện dựa trên những công nghệ hiện có nhất định, vì vậy thu hút được nguồn vốn đầu tư sẽ sử dụng được những trình độ công nghệ nhất định. Điều này được thể hiện rõ nét hơn cả thông qua sự hình thành và phát triển của các đơn vị kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Dưới nhiều hình thức khác nhau, khu vực kinh tế này là nơi trực tiếp vừa thu hút và sử dụng vốn, vừa thực hiện chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Trình độ công nghệ phản ánh năng lực cạnh tranh, phản ánh năng lực ứng xử với môi trường tự nhiên,…cho nên trong nhiều trường hợp quốc 10 gia/địa phương không phải thu hút vốn đầu tư càng nhiều càng tốt mà cần phải chọn lọc những dự án đầu tư có trình độ công nghệ thích hợp. Thúc đẩy hình thành các hình thức kinh doanh đa dạng, nguồn vốn đa dạng, tăng cường cạnh tranh, tạo động lực mới cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, Đầu tư về cơ bản là theo đuổi mục tiêu lợi nhuận trong tinh thần cạnh tranh. Nhà đầu tư phải cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành, điều này chỉ có thể thực hiện khi các chủ thể sản xuất kinh doanh dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn đầu tư thông qua sự phát triển của các thị trường tài chính.
Đa dạng hóa các nguồn đầu tư là đa dạng hóa cơ cấu sở hữu, tạo nên sự cạnh tranh đồng thời khai thác thế mạnh của từng thành phần kinh tế. Sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần với việc huy động các nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước và tập thể đã tạo ra những đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ giữa các thành phần kinh tế cùng những hình thức kinh doanh đa dạng. Sự có mặt ngày càng nhiều của các nguồn vốn đầu tư đó thực sự tạo ra sự năng động, thúc ép bản thân các thành phần kinh tế không ngừng vươn lên. Sức ép đó ngày càng lớn với sự hình thành, phát triển của các đơn vị kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cùng với lộ trình hội nhập kinh tế vào khu vực và quốc tế của nước ta.
Sự tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh của các thành phần kinh tế khác nhau tạo ra xung lực mới cho phát triển kinh tế. Dù cơ cấu tỷ trọng các thành phần kinh tế có thay đổi với sự giảm dần của kinh tế nhà nước và tăng dần của kinh tế ngoài nhà nước, nhưng các thành phần kinh tế nước ta thời gian qua đều lớn mạnh và cùng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Tăng cường khai thác những lợi thế tuyệt đối và tương đối để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Sự bổ sung vốn đầu tư cho nền kinh tế tạo điều kiện khai thác tiềm năng của đất nước, từng bước hình thành những lợi thế mới trong phân công lao động 11 quốc tế. Việc phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực giúp xác định rõ hơn các ngành chủ lực, từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại với sự giảm dần về tỷ trọng của nông nghiệp, sự gia tăng của công nghiệp, dịch vụ trong GDP và lực lượng lao động.
Cụ thể: Việt Nam có lợi thế tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp nhưng thiếu đầu tư nên năng suất thấp, chất lượng kém. Vì vậy, vốn đầu tư giúp khai thác thế mạnh này (đầu tư cho nông nghiệp và công nghiệp chế biến); có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên nhưng thiếu nguồn vốn để khai thác; có lợi thế về vị trí địa lý nhưng thiếu nguồn vốn đầu tư phát triển giao thông vận tải; có lợi thế về lực lượng lao động dồi dào nhưng thiếu nguồn vốn đầu tư cho đào tạo chất lượng cao. Mở rộng thị trường, thúc đẩy giao lưu kinh tế và hội nhập Sự phát triển đa dạng của sản xuất kinh doanh dựa trên những nguồn vốn đầu tư khác nhau theo cơ chế thị trường đã thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ thị trường và không ngừng mở rộng thị trường theo hướng đồng bộ, gắn với khu vực và quốc tế. Sự phát triển của các DN bằng các nguồn vốn trong nước cho phép phục vụ ngày càng tốt hơn các nhu cầu trong nước và từng bước mở rộng xuất khẩu.
Sự phát triển của các DN có vốn đầu tư nước ngoài đã đẩy mạnh tiến trình hội nhập, tạo thuận lợi khai thác và mở rộng thị trường ra nước ngoài. Với sự gia tăng của các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt nguồn vốn FDI, kim ngạch xuất khẩu đã phát triển nhanh, cơ cấu xuất khẩu được cải thiện theo hướng tăng tỷ trọng hàng chế biến, giảm tỷ trọng sản phẩm thô, tạo một số mặt hàng có khối lượng lớn có nguồn cung và đầu ra ổn định. Giúp giải quyết các vấn đề xã hội Các địa phương phát triển kinh tế chưa cao thường là thuần nông hay sản xuất nông nghiệp quảng canh. Do năng suất thấp, tích lũy để tái sản xuất mở rộng cũng thấp, thường là thâm dụng lao động.
Việc đầu tư thêm cho phép tận dụng những tiềm năng còn để ngỏ.