CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY VIẾT VĂN BẢN THUYẾT MINH CÓ LỒNG GHÉP YẾU TỐ NGHỊ LUẬN 1. Văn bản thuyết minh 1.1 Khái niệm Lê A (Chủ biên), Nguyễn Trí (2001) quan niệm rằng VBTM là VB được viết ra “nhằm làm cho người đọc biết và hình dung rõ một đối tượng nào đấy bằng cách trình bày, miêu tả, phân tích, đánh giá các khía cạnh và các biểu hiện cụ thể của chúng. 252); Lê Xuân Soạn (2006) cho rằng VBTM là VB được viết ra ra nhằm cung cấp thông tin về một đối tượng cụ thể nào đó, VB này “giúp HS làm quen với lối làm văn có tư duy, mang tính khách quan, khoa học, chính xác.” (Lê Xuân Soạn, 2006, tr. 251); SGK Ngữ văn 8 tập 1 định nghĩa: “VBTM là kiểu VB thông dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống nhằm cung cấp những tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,.
của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu giải thích” (Ngữ văn 8 tập 1, 2019, tr. 117); SGK Ngữ văn 10 tập 1 xác định: “Văn thuyết minh nhằm giới thiệu, trình bày chính xác, khách quan về cấu tạo, tính chất, quan hệ, giá trị,. của một sự vật, hiện tượng, một vấn đề thuộc tự nhiên, xã hội và con người.” (Ngữ văn 10 tập 1, 2017, tr. Ephraim (2009) định nghĩa VBTM là loại VB được viết ra nhằm cung cấp thông tin cho người đọc về vấn đề hoặc một chủ đề cụ thể nào đó và được phân thành ba thể loại cơ bản là: tiểu sử, tự truyện và sách thông tin (Ephraim, 2009, tr.
Đồng quan điểm với Ephraim, Smith (trên website https://www.ca của Đại học Western, Canada) cho rằng VBTM hay còn được gọi là VB thông tin, là VB phi hư cấu cung cấp những dữ kiện và thông tin về một chủ đề được sử dung phổ biến trong các môn như khoa học tự nhiên, lịch sử và khoa học xã hội (Smith, tr. Fountas và Pinnell (2012) định nghĩa VBTM là một loại VB thông tin cung cấp các thông tin thực tế về một vấn đề nào đó một cách rõ ràng, cấu trúc tổ chức không có tính tường thuật với một vấn đề chính và các thông tin hỗ trợ kèm theo (Fountas và Pinnell, 12 2012, tr. Smith, Busch và Gou (2015) quan niệm rằng VBTM là VB cung cấp thông tin như sự kiện, sự giải thích hay lí do cho hiện tượng trong đời sống thực tế (Smith, Busch và Guo, 2015, tr. Richard (2016) cho rằng VBTM là VB trình bày lí do, giải thích các bước thực hiện trong một quy trình (Richard, 2016, tr.
Từ những điểm chung của các tài liệu trên, có thể rút ra được khái niệm VBTM như sau: VBTM là VB được viết ra nhằm cung cấp thông tin về những sự vật/hiện tượng trong tự nhiên/xã hội; các thông tin này phải có độ chính xác cao và được trình bày một cách rõ ràng, dễ hiểu để người đọc/người nghe biết và hiểu đúng về đối tượng được nói đến, từ đó sử dụng chúng vào mục đích có lợi cho con người.2 Đặc điểm văn bản thuyết minh Lê Xuân Soạn (2006) và Nguyễn Thanh Hùng (2008) đều cho rằng VBTM phải bám sát và trình bày cho người đọc hiểu rõ những nét tiêu biểu riêng biệt của đối tượng, nội dung thuyết minh phải đảm bảo tính khách quan khoa học về đối tượng để người đọc hiểu đúng và toàn diện về đối tượng. SGK Ngữ văn 8 tập 1 trình bày hai đặc điểm của VBTM, bao gồm: (1) “Tri thức trong VBTM đòi hỏi khách quan, xác thực, hữu ích cho con người”, (2) “VBTM cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn.” (Ngữ văn 8 tập 1, 2019, tr. Fountas và Pinnell (2012) cho rằng đặc điểm của VBTM bao gồm: (1) Mục đích: cung cấp thông tin về một vấn đề/chủ đề nào đó, bao gồm một vấn đề/chủ đề lịch sử hoặc vấn đề/chủ đề khoa học (Fountas và Pinnell, 2012, tr. 2); (2) Ngôn ngữ VBTM: chính xác, tập trung vào chủ đề, sử dụng từ vựng của một lĩnh vực cụ thể thay vì ngôn ngữ tượng hình (Fountas và Pinnell, 2012, tr.
2); (3) Hình thức VBTM: thường viết thành các đoạn văn, một số ví dụ có thể kể đến về các dạng VBTM như: sách thương mại, bài báo, báo cáo, phỏng vấn và bài tiểu luận (Fountas và Pinnell, 2012, tr. Richard (2016) thì nhấn mạnh vào mục đích của VBTM đó là cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về một chủ đề/vấn đề cụ thể, đó có thể là giải thích một quy trình hoặc giải thích nguyên nhân/ảnh hưởng hoặc so sánh/đối chiếu hoặc phân tích diễn giải hoặc cung cấp vấn đề/giải pháp (Richard, 2016, tr. Từ mục đích này, 13 tác giả lưu ý rằng việc trình bày VB theo một thứ tự logic cần được sử dụng với trình tự phù hợp các ý tưởng hoặc các bước trong một quy trình. Một nội dung thuyết minh hiệu quả nên bao gồm một ý chính, các chi tiết hỗ trợ và kết luận.
Smith, Busch và Guo (2015) thì tập trung vào các đặc điểm: cấu trúc VB, ngôn ngữ và thiết kế trực quan của VBTM. Trong đó, về cấu trúc VB, theo nhóm tác giả, VBTM tổ chức VB thành các cấu trúc cụ thể để hiển thị các kết nối trong nội dung của VB (Smith, Busch và Guo, 2015, tr. Các cấu trúc đó thường là: cấu trúc trình tự, cấu trúc mô tả, cấu trúc so sánh/tương phản, cấu trúc nguyên nhân/ảnh hưởng và cấu trúc vấn đề/giải pháp. Về ngôn ngữ, từ ngữ được sử dụng trong VBTM có xu hướng kĩ thuật (từ ngữ có tính chất chuyên ngành liên quan đến chủ đề/vấn đề đang thuyết minh) cao hơn (so với từ ngữ trong VB tự sự) (Smith, Busch và Guo, 2015, tr.
Về thiết kế trực quan, các VBTM thường bao gồm mục lục, tiêu đề, sơ đồ và hình ảnh; trong đó, mục lục và tiêu đề giúp tổ chức nội dung thuyết minh thành các chủ đề nhỏ và thông báo cho người đọc về thông tin được đưa vào VB, sơ đồ và hình ảnh cung cấp hỗ trợ trực quan cho VB (Smith, Busch và Guo, 2015, tr. Từ những điểm chung của VBTM được trình bày trong các tài liệu trên, chúng tôi khái quát và rút ra các đặc điểm của VBTM như sau: Thứ nhất, về nội dung thông tin: các thông tin được trình bày trong VBTM phải khách quan và có độ chính xác cao. VBTM gắn liền với tư duy khoa học vì vậy, muốn viết được VBTM, người viết phải có ý thức tìm hiểu, điều tra, nghiên cứu, thu thập các thông tin có liên quan đến đối tượng được thuyết minh, tổng hợp lại và tổ chức bố cục bài viết sao cho thật rành mạch, chặt chẽ để người đọc hiểu đúng, hiểu rõ và hiểu toàn diện những nét tiêu biểu riêng biệt của đối tượng. Thứ hai, về phương pháp thuyết minh: để đạt được mục đích là truyền đạt thông tin khách quan, khiến cho người đọc/người nghe biết, hiểu về sự vật/hiện tượng trong tự nhiên/xã hội thì khi viết VBTM, người viết thường phải sử dụng các phương pháp như trình bày – nói một cách rõ ràng, đầy đủ cho người khác hiểu rõ; giới thiệu – cho biết các thông tin như tên gọi, nguồn gốc, đặc điểm,.
của đối tượng đang được nói đến; hay giải thích – làm cho hiểu rõ một điều gì đó. 14 Thứ ba, về ngôn ngữ thuyết minh: ngôn ngữ trong VBTM phải chính xác, rõ ràng, dễ hiểu. Từ ngữ được sử dụng trong VBTM hầu hết là từ đơn nghĩa. Người đọc khi đọc VB sẽ tiếp cận ngay với ý nghĩa bề mặt của từ và thu nhận thông tin về đối tượng ngay từ nội dung nghĩa của từ mà không phải qua suy luận hay diễn giải nào.
Đặc biệt, trong VBTM còn có thể có những từ ngữ chuyên ngành liên quan đến đối tượng được thuyết minh. Ngoài ra, để tạo sự hấp dẫn, sinh động cho VBTM, người viết có thể sử dụng một số từ ngữ giàu tính hình tượng và vận dụng các biện pháp nghệ thuật như kể chuyện, tự thuật, đối thoại theo lối ẩn dụ, nhân hóa, (Ngữ văn 9 tập 1, 2018, tr. 13), những sự tích, truyền thuyết thích hợp (Ngữ văn 10 tập 2, 2017, tr. 27), các kiểu câu như câu nghi vấn, câu cảm thán, câu trần thuật,.
Song, mục đích của việc lồng ghép vào VBTM các yếu tố nói trên là để góp phần làm nổi bật đặc điểm của đối tượng được thuyết minh và gây hứng thú cho người đọc. Vì vậy, khi lồng ghép vào VBTM các yếu tố này, người viết cần cân nhắc kĩ càng và sử dụng với tỉ lệ hợp lí để tránh làm mất đi tính chất thuyết minh của VB. Thứ tư, về cấu trúc VBTM: trong Chương trình Ngữ văn hiện hành, khái niệm cấu trúc VB tương đương với khái niệm kết cấu VB. SGK Ngữ văn 10 tập 1, định nghĩa kết cấu VB là “sự tổ chức, sắp xếp các thành tố của VB thành một đơn vị thống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa” (Ngữ văn 10 tập 1, 2017, tr.
Như vậy, có thể hiểu cấu trúc (hay kết cấu) VBTM là mối quan hệ bên trong của các thành phần tạo nên một VBTM hoàn chỉnh. Theo SGK Ngữ văn 10 tập 1, VBTM có bốn kiểu cấu trúc (hình thức kết cấu) bao gồm: (1) cấu trúc theo trình tự thời gian, (2) cấu trúc theo trình tự không gian, (3) cấu trúc theo trình tự logic, (4) cấu trúc theo trình tự hỗn hợp (Ngữ văn 10 tập 1, 2017, tr. Ở những tài liệu nghiên cứu nước ngoài mà chúng tôi thu thập được, các tác giả đều có cách phân loại các kiểu cấu trúc của VBTM khác nhau. Theo Ephraim (2009), VBTM có các kiểu cấu trúc là: cấu trúc mô tả/tổng hợp, cấu trúc so sánh/đối chiếu, cấu trúc nguyên nhân/ảnh hưởng, cấu trúc vấn đề/giải pháp.
Đây cũng là quan điểm của Harvey (1998), Akhondi, Malayeri và Samad (2011), Fountas và Pinnell (2012), Smith, Busch và Guo (2015). Các tác giả đều khẳng định cấu trúc có vai trò 15 quan trọng trong việc giúp đỡ người đọc xác định những thông tin quan trọng khi đọc VBTM. Mỗi cấu trúc đều yêu cầu sự mạch lạc và chính sự mạch lạc này giúp người đọc có thể tiếp cận và hiểu các thông tin được đưa ra trong VB. Theo những nghiên cứu này, VBTM có các kiểu cấu trúc sau: mô tả/tổng hợp, so sánh/đối chiếu, nguyên nhân/hậu quả, vấn đề/giải pháp và khác với Ephraim (2009), những tác giả này đưa thêm một cấu trúc nữa đó là cấu trúc trình tự/chuỗi thời gian (Fountas và Pinnell, 2012, tr.
Cùng bàn về cấu trúc VBTM và đều phân chia cấu trúc VBTM thành năm kiểu cấu trúc nhưng nghiên cứu của Smith (trên website https://www.