CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT 1. Một số khái niệm cơ bản về thuế GTGT 1. Khái niệm và bản chất của thuế GTGT [11, Tr.5] Thuế giá trị gia tăng (VAT) là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. GTGT là khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ khi qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ.
Phần giá trị tăng thêm ở mỗi giai đoạn bao gồm: tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức cổ phần, tiền lãi vay ngân hàng phải trả và các khoản chi phí phát sinh. Nói cách khác, GTGT là phần chênh lệch giữa giá đầu ra với giá đầu vào do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình thực hiện sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Do thuế GTGT được tính trên phần giá trị tăng thêm nên dù hàng hoá được mua đi bán lại kiểu gì, dù bán cho người tiêu dùng trực tiếp hay gián tiếp qua nhiều giai đoạn, thì kết quả cuối cùng NN vẫn thu được một khoản thuế cố định, đó chính là số thuế của toàn bộ giá trị hàng hoá mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả. Tức là thuế GTGT đánh trên hành vi tiêu dùng, còn các cơ sở sản cuất kinh doanh với tư cách là những nhà trung gian nên không phải là người chịu thuế.
Vì vậy có thể nói, bản chất của thuế GTGT là thuế tiêu dùng đánh vào người tiêu dùng cuối cùng. Cũng do thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên ĐTNT phải là các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã bỏ thêm chi phí vào làm cho giá cả của hàng hoá, dịch vụ tăng lên. Tuy nhiên, phần thuế mà họ nộp vào Ngân sách thực chất lại do người mua hàng hoá, dịch vụ đã thanh toán trong giá cả, tức là người tiêu dùng mới là người chịu thuế. Lúc này các cơ sở sản xuất đóng vai trò là người thu thuế hộ cho NN.
Vì vậy, thuế GTGT là một loại thuế gián thu, điều tiết vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ một cách gián tiếp, thông qua giá cả. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng [11,Tr.7] Thuế GTGT có một số đặc điểm chủ yếu sau: 5 Thứ nhất, thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhưng không điều tiết trực tiếp vào phần thu nhập dành cho tiêu dùng của người tiêu dùng mà điều tiết gián tiếp thông qua hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Thuế gián thu thường có người chịu thuế và người nộp thuế không đồng nhất với nhau.
Đối với thuế GTGT thì người cung cấp hàng hóa, dịch vụ có khả năng và cơ hội chuyển nghĩa vụ thuế của mình thông qua giá cả bằng cách tính gộp khoản thuế này vào giá thanh toán mà người tiêu dùng phải chi trả. Tuy nhiên, đặc điểm này cũng chỉ mang tính tương đối vì rằng người chịu thuế GTGT hoặc là người tiêu dùng, hoặc là người sản xuất, hoặc cả người sản xuất và người tiêu dùng cùng chịu tùy thuộc vào mối quan hệ cung cầu của loại hàng hóa đó trên thị trường. Thứ hai, thuế GTGT là thuế lũy thoái. Thuế GTGT là sắc thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ.
Thuế này cấu thành vào trong giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ. Khi cùng tiêu dùng một hàng hóa, dịch vụ như nhau thì người tiêu dùng phải trả một mức thuế như nhau, không phân biệt người tiêu dùng có thu nhập cao hay thấp. Do vậy, tỷ lệ điều tiết của thuế GTGT đối với người nghèo cao hơn người giàu hay tỷ suất thuế GTGT bình quân giảm khi thu nhập của người chịu thuế tăng. Thứ ba, thuế GTGT là loại thuế đánh nhiều giai đoạn, không trùng lặp.
Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Do vậy, việc thu thuế trên GTGT ở từng giai đoạn tương đương với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Đặc điểm này cho thấy thuế GTGT đã khắc phục được nhược điểm trùng lặp của thuế doanh thu trước đây khi thuế doanh thu cũng đánh vào nhiều giai đoạn nhưng lại đánh trên giá trị toàn bộ của hàng hóa, dịch vụ trong mỗi giai đoạn chuyển dịch.
Thứ tư, thuế GTGT mang tính trung lập cao. Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT không ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi vì thuế này không cấu thành trong doanh thu hay chi phí của hoạt động kinh doanh. Thuế GTGT cũng không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế; sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai 6 đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi, đều bằng với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Thứ năm, thuế GTGT là loại thuế đánh theo nguyên tắc điểm đến. Đánh thuế theo nguyên tắc điểm đến nghĩa là đánh thuế tiêu dùng căn cứ vào nơi thực hiện hành vi tiêu dùng, không phân biệt hàng hóa đó được sản xuất ở đâu. Theo nguyên lý này, thuế GTGT đánh vào tất cả các hàng hóa và dịch vụ ở nơi người tiêu dùng cư trú, không phân biệt hàng hóa đó được sản xuất trong nước hay sản xuất ở nước ngoài. Khi đó, hàng hóa sản xuất ở nước ngoài nhưng nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng trong nước cũng bị đánh thuế GTGT ngay khi nhập khẩu; hàng hóa sản xuất trong nước xuất khẩu phục vụ cho tiêu dùng ngoài lãnh thổ sẽ không bị tính thuế GTGT (thông qua cơ chế áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%).
Vai trò của thuế GTGT trong nền kinh tế thị trường Thuế GTGT ra đời thay cho thuế doanh thu trước đây. So với thuế doanh thu, thuế GTGT có một ưu điểm lớn là không bị trùng lặp khi tính thuế quan nhiều giai đoạn luân chuyển của một mặt hàng nào đó. Bên cạnh đó, với các tính chất, đặc điểm, cơ chế tính thuế của mình mà thuế GTGT có các vai trò nhất định đối với việc hoàn thiện hệ thống thuế, tạo nguồn thu cho NNN và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Cụ thể, thuế GTGT có các vai trò chủ yếu trên các mặt như sau: Vai trò đối với NSNN: [11,Tr.8] Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước.
Thuế GTGT thuộc loại thuế đánh vào tiêu dùng được áp dụng rộng rãi, có phạm vi đối tượng thu rất rộng nên có thể tạo ra nguồn thu cho NSNN ngày càng tăng. Bên cạnh đó, đối tượng điều tiết chính của thuế này là mức tiêu dùng thường có tính ổn định hơn so với thu nhập, nên số thu từ thuế GTGT cũng đảm bảo được sự ổn định, tạo điều kiện cho việc dự kiến nguồn thu và kế hoạch chi tiêu của NSNN. Ngoài ra, thuế GTGT còn là khoản thuế do người tiêu dùng chịu, ẩn trong giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế nên dễ thực hiện, không gây ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vai trò đối với lưu thông hàng hóa: [10,Tr.8] Thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thuế GTGT góp phần khuyến khích mạnh mẽ việc sản xuất hàng hóa xuất khẩu khi hàng hóa xuất khẩu được áp dụng mức 7 thuế suất 0% và được hoàn trả lại toàn bộ số thuế GTGT đã thu ở khâu trước. Việc áp dụng thuế GTGT đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông hàng hóa, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và mở rộng xuất khẩu. Vai trò đối với quản lý kinh tế - xã hội:[11,Tr.9] Thuế GTGT là công cụ để điều tiết vi mô và vĩ mô nền kinh tế. Thứ nhất, thuế GTGT khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.
Thuế GTGT do người tiêu dùng chịu, vì thế khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh bỏ vốn đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất phù hợp với định hướng phát triển kinh tế nước ta. Thứ hai, thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không tính trên toàn bộ giá của hàng hóa, dịch vụ, vì vậy thuế GTGT khắc phục tình trạng không trùng lắp, đồng thời thúc đẩy chuyên môn hóa, nâng cao năng xuất, chất lượng hạ giá thàng sản phẩm. Thứ ba, thuế GTGT có diện bao quát rộng, không những đánh vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước mà còn đánh ở khâu nhập khẩu hàng hóa, góp phần tăng thu cho NSNN và làm tăng giá vốn hàng nhập khẩu với mục đích bảo hộ sản xuất kinh doanh nội địa. Thứ tư, thuế GTGT có 3 mức thuế suất cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tính thuế và trong việc quản lý thuế các cơ quan chức năng.
Thứ năm, thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện tốt việc hạch toán và thực hiện mua bán hàng hóa, dịch vụ có hóa đơn chứng từ, tránh trốn lậu thuế, nâng cao tính tự giác của đối tượng kinh doanh. Thứ sáu, thuế GTGT góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế, thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Nội dung quản lý thu thuế GTGT 1. Một số khái niệm chung về quản lý thuế GTGT 1.
Cơ chế quản lý thuế ở Việt Nam Cơ chế quản lý thuế được hiểu là cách thức mà chủ thể quản lý (cơ quan quản lý thuế) lựa chọn để tác động đến hành vi tính thuế, nộp thuế của người nộp thuế, là cách thức tổ chức thu nộp thuế. Hiện nay, Việt Nam áp dụng cơ chế quản lý thuế là người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu kê khai. Cơ chế quản lý thuế này còn gọi là cơ chế “Tự kê khai, tự nộp thuế”.