CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm, bản chất ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước và của hàng hóa, tiền tệ. Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện duy trì và phát triển xã hội thường quy định các khoản thu mang tính bắt buộc các đối tượng trong xã hội phải đóng góp để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy Nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục.
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của các chế độ xã hội, nhiều khái niệm về NSNN đã được đề cập theo các góc độ khác nhau [5]. Ngân sách Nhà nước là một văn kiện lập pháp hay một đạo luật chứa đựng hay có kèm theo một bản kê khai các khoản thu chi dữ liệu cho một thời gian nào đó, là một khuôn mẫu mà các cơ quan lập pháp, hành pháp cùng các cơ quan hành chính phụ thuộc phải tuân theo [4]. Ngân sách nhà nước là bản dự toán (bản ghi) cân đối hàng năm về thu, chi cho các cơ quan chính quyền Nhà nước [7]. Tào Hữu Phùng và GS.TS Nguyễn Công Nghiệp: “NSNN là dự toán (kế hoạch) thu - chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (phổ biến là một năm)”.
Những khái niệm trên có chứa sự không giống nhau nhất định, tuy nhiên, chúng đều phản ánh về các kế hoạch dự toán thu, chi của Nhà nước trong một thời kỳ xác định, được thể hiện với hình thái quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và được Nhà nước sử dụng cho việc trang trải các loại chi tiêu gồm: chi cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi cho an ninh - quốc phòng, chi cho an sinh xã hội. Thực tế, các hoạt động Ngân sách Nhà nước là hoạt động thu và chi (sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước, là sự vận động, tương tác qua lại giữa nguồn 6 tài chính Nhà nước và nguồn tài chính từ các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối giá trị tổng sản phẩm quốc dân. Phía sau các hoạt động trên có hiện hữu các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế khác. Hoặc có thể nói, Ngân sách Nhà nước phản ánh mối liên hệ giữa Nhà nước với các chủ thể tham gia trong nền kinh tế - xã hội và trong phân phối giá trị tổng sản phẩm quốc dân.
Bằng việc hình thành, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể kinh tế chuyển dịch thành thu nhập của Nhà nước, sau đó sẽ được chuyển dịch đến các chủ thể được thụ hưởng nhằm bảo đảm thực hiện các hoạt động quản lý Nhà nước. Chức năng NSNN [8] Chức năng của NSNN vẫn luôn được quan tâm, cập nhật sao cho phù hợp với tình hình mới, nhất là trong khi vai trò của Nhà nước thay đổi cùng với sự vận động và phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội Thứ nhất, NSNN là một trong những công cụ giúp ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thất nghiệp, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Thứ hai, NSNN có chức năng phân phối nguồn lực trong xã hội: Để tạo tạo và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thông qua công tác quản lý thu chi NSNN, Nhà nước thực hiện việc chi phối nguồn lực trong những lĩnh vực trọng điểm, nhiều rủi ro, cần khuyến khích mở rộng hoặc kiềm chế tăng trưởng; đồng thời có thể thu hút, lôi kéo sự tham gia phân bố lại nguồn lực của các thành phần kinh tế tham gia trên thị trường. Thứ ba, NSNN có chức năng phân phối lại thu nhập trong xã hội: Nhà nước sử dụng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia thực hiện quá trình phân phối lại thu nhập nhằm giảm bớt sự phân hoá xã hội, bất bình đẳng về thu nhập bảo đảm sự công bằng hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn thu nhập của cộng đồng.
Nhà nước tiến hành thực hiện các mục tiêu đã đề ra bằng các công cụ thuế và chi tiêu. 7 Thứ tư, NSNN có chức năng điều chỉnh kinh tế: Chính sách tài khoá kích cầu được khuyến cáo sử dụng trong thời kỳ suy thoái bằng việc giảm thuế hoặc tăng tiêu dùng công, mở rộng quy mô sản lượng sản xuất xã hội. Trong điều kiện mở cửa, nền kinh tế phát triển ổn định thì chính sách tài khoá mở rộng sẽ tạo ra phản ứng dây chuyền: chính sách tài khoá mở rộng nhằm mục tiêu tăng tổng cầu, dẫn đến tăng lãi suất, giá đồng nội tệ tăng, thuần xuất khẩu giảm, tổng cầu giảm. Như vậy, trong ngắn hạn chính sách tài khoá mở rộng có thể gia tăng tổng cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, trong dài hạn sẽ gây kìm hãm sự tăng trưởng.
Vấn đề này yêu cầu các nhà hoạch địch chính sách tài chính nói chung và chính sách tài khoá nói riêng phải dự tính trước các tình huống khi sử dụng công cụ ngân sách nhà nước sao cho đạt hiệu quả và tương thích với quá trình điều chỉnh nền kinh tế. Vai trò của NSNN [2] Một là, Ngân sách Nhà nước là kế hoạch tài chính vĩ mô của Nhà nước, được sử dụng để quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, là công cụ có ý nghĩa quan trọng mang tính định hướng trong việc phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới, phát triển bền vững kinh tế vùng. Hai là, Ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước. Quỹ ngân sách được hình thành từ tổng sản phẩm quốc nội và các nguồn lực tài chính khác trên thị trường.
Quỹ ngân sách được sử dụng để duy trì sự tồn tại, bảo đảm cho hoạt động, thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Ba là, trong hệ thống các khâu tài chính Ngân sách Nhà nước là khâu chủ đạo, vì Nhà nước nắm giữ NS, kiểm soát, chi phối và cân đối nền kinh tế vĩ mô. Những nhận thức chung về NS cấp huyện 1. Sự tồn tại khách quan của NS huyện NS cấp huyện là một bộ phận hữu cơ của Ngân sách Nhà nước, hình 8 thành, tồn tại và phát triển song song với hệ thống ngân sách Nhà nước, bảo đảm chức năng là cấp ngân sách trung gian giữa ngân sách cấp tỉnh, thành phố và ngân sách cấp dưới, cùng các nhiệm vụ khác được uỷ quyền từ NSNN cấp Trung ương.
Vai trò của ngân sách huyện Đóng vai trò Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện, có vai trò bảo đảm cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước của Chính quyền cấp huyện được thực hiện đúng quy định. Cấp huyện là một cấp chính quyền cơ sở ở địa phương với một bộ máy quản lý có hệ thống các cơ quan, đoàn thể, hành chính để tiến hành thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý của Nhà nước. Nghĩa là để đảm bảo cho các cơ quan đoàn thể, các đơn vị đó hoạt động được thì cần có một quỹ tài chính tập trung cấp huyện, hay ngân sách cấp huyện. [8] Tuy không thực hiện những chức năng, nhiệm vụ quan trọng và các mục tiêu chiến lược như ngân sách Trung ương, nhưng NS huyện cũng có một vị trí nhất định, giữ vai trò chủ động trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước tại địa phương tuỳ theo địa giới hành chính, tình hình kinh tế - xã hội của từng huyện mà có sự khác nhau nhất định.
Trong thời gian qua, sự năng động trong công tác quản lý của Chính quyền các cấp cơ sở đã khiến cho nền kinh tế các địa phương phát triển nhanh chóng, đây là sự đóng góp to lớn của NS cấp huyện, nguồn thu vẫn luôn tăng lên, các khoản chi tiêu được quản lý ngày một chặt chẽ, chính xác. Tăng cường vai trò, vị trí ngân sách huyện là hết sức cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện tại, đất nước đổi mới hội nhập giao lưu kinh tế quốc tế. Ngoài việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước, ngân sách cấp huyện còn cần định hướng cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển đúng đắn, phát huy tối đa tiềm năng, khai thác có hiệu quả những thế mạnh của địa phương, giải quyết các yêu cầu cấp thiết trước về vấn đề phát triển sự nghiệp 9 y tế, giáo dục, an ninh – quốc phòng, phát triển cơ sở hạ tầng, tiến tới hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiệm vụ của NS huyện [11] 1.
Khái quát thu thu ngân sách a) Các nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng 100%: - Thuế môn bài thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do huyện, thị xã quản lý và tổ chức thu; - Thuế tài nguyên thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do huyện, thị xã quản lý và tổ chức thu; - Các khoản phí, lệ phí thuộc huyện, thị xã quản lý và tổ chức thu; - Các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị do huyện, thị xã quản lý tổ chức thu; - Thuế chuyển quyền sử dụng đất do huyện, thị xã quản lý và tổ chức thu; - Các khoản thu phạt từ các hành vi vi phạm hành chính, tịch thu phần nộp NS theo qui định của pháp luật do các đơn vị thuộc huyện, thị xã trực tiếp xử lý; - Nguồn huy động đóng góp từ các cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật vào NS huyện, thị xã; b) Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ %: - Thuế giá trị gia tăng (Không tính hàng hoá nhập khẩu) - Thuế thu nhập doanh nghiệp. c) Thu bổ sung cân đối ngân sách. - Thu bổ sung có tính chất xây dựng cơ bản. - Thu bổ sung cân đối ngân sách.
- Thu bổ sung chương trình mục tiêu. Về chi ngân sách: Vấn đề chi ngân sách luôn gắn với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước, địa phương đảm nhiệm trong từng giai đoạn. Đặc điểm này có thể nhìn thấy từ vai trò, chức năng và bản chất của NSNN. 10 NSNN có bản chất chính trị, đảm bảo hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước, ổn định nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.